Tag: kiến thức phật giảo

Cách để duy trì mối quan hệ tốt

Cách để duy trì mối quan hệ tốt

Duy trì mối quan hệ là công việc khó khăn. Nhiều mối quan hệ tan vỡ vì họ thay đổi và ngừng nỗ lực để giữ tình yêu còn sống. Mỗi người làm việc chăm chỉ để vun đắp và đảm bảo rằng mối quan hệ của họ sẽ vẫn mạnh mẽ và sống động.

Cách để duy trì mối quan hệ tốt

Cách để duy trì mối quan hệ tốt

Từ khi còn thơ ấu, Tôi đã được dạy những bài học đơn giản để có thể đối phó với những thách thức của cuộc sống và nhiều cách để xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với người khác. Rất ít người trên thế giới này chọn lối sống cô độc và chúng ta cần phải học cách tương tác và cùng tồn tại với cộng đồng xung quanh mình, để có thể phấn đấu cùng nhau trong thế giới thực. Có mối quan hệ tốt sẽ đảm bảo với bạn rằng, bạn sẽ không bao giờ phải sống cuộc đời một mình. Câu hỏi đặt ra là, bạn sẽ làm những gì để có một mối quan hệ tốt?

Chúng Ta Phải Biết Chia Sẽ

Một khi bạn đã có một mối quan hệ tốt, bạn không chỉ nghĩ về mình. Bạn học cách chia sẻ những gì bạn có. Điều này không chỉ bao gồm những thứ vật chất mà bạn cũng nên chia sẻ suy nghĩ, ý tưởng, ước mơ của mình và thậm chí cả những thất vọng của bạn. Chúng ta sẽ làm những điều mà chúng ta thích, chúng ta đều học cách thỏa hiệp và hi sinh một số thứ mà chúng ta thường sử dụng thay vì muốn giữ tất cả cho mình.

Chúng Ta Phải Quan Tâm Đến Nhau

Mọi người trong mối quan hệ tốt đẹp đều tốt với nhau. Họ quan tâm đến nhau và cố gắng thể hiện cách họ đánh giá không gian của nhau. Cả hai đều dành thời gian để biết những gì quan trọng với người khác và cũng có thời gian để thử những lợi ích của nhau. Hầu hết tất cả, họ chăm sóc đủ để lắng nghe nhau và làm những điều tốt đẹp cho nhau.

Phải Có Tự Do Cá Nhân

Một mối quan hệ tốt là một giao thông hai chiều. Mỗi người được phép di chuyển tự do như một cá nhân, nhưng mỗi hành động đều được thực hiện với sự quan tâm của người kia. Không ai có quyền kiểm soát.

Chúng Ta Phải Có Sự Hợp Tác

Một mối quan hệ phát triển bị ràng buộc bởi sự hợp tác. Những người tham gia làm việc như là một đội để đạt được một mục tiêu. Mỗi người giúp và hỗ trợ người khác thành công trong nỗ lực cá nhân của họ. Họ khen nhau và vì vậy họ cùng nhau phát triển và cũng như các cá nhân.

Chúng Ta Phải Thường Xuyên Vun Đắp

Duy trì mối quan hệ là công việc khó khăn. Nhiều mối quan hệ tan vỡ vì họ thay đổi và ngừng nỗ lực để giữ tình yêu còn sống. Mỗi người làm việc chăm chỉ để vun đắp và đảm bảo rằng mối quan hệ của họ sẽ vẫn mạnh mẽ và sống động.

Chúng Ta Phải Có Niềm Tin Với Nhau

Niềm tin là một thành phần quan trọng đối với bất kỳ mối quan hệ nào. Nó giống như thủy tinh cần được bảo vệ bởi vì một khi nó bị hỏng nó không bao giờ trở lại hình dạng ban đầu. Nếu hai người tin tưởng lẫn nhau hoàn toàn thì mối quan hệ của họ sẽ vững bền.

Chúng Ta Phải Tôn Trọng Lẫn Nhau

Một yếu tố quan trọng khác để có một mối quan hệ tốt là tôn trọng nhau. Không có vấn đề hai người tương thích nhau là họ sẽ có sự khác biệt của họ. Mỗi người không nên cố gắng thay đổi người khác, thay vào đó nên có sự chấp nhận và tôn trọng lẫn nhau. Đó là cách hoạt động của một mối quan hệ lành mạnh.

Chúng Ta Phải Có Tình Yêu

Tình yêu là dấu hiệu cuối cùng của một mối quan hệ tốt. Nhưng tôi không nói về tình yêu lãng mạn một mình. Tôi đang nói về tình yêu vô đạo đức khiến mọi người từ bỏ những điều quan trọng trong cuộc sống của họ chỉ để làm cho người kia hạnh phúc. Tôi đang nói về một tình yêu sẵn sàng hy sinh tất cả mọi thứ chỉ để họ có thể được với nhau.

Theo hoasenphat.com

Cách tu tập về sự khiêm tốn hạ ngã

Cách tu tập về sự khiêm tốn hạ ngã

Để cuộc sống của chúng ta thực sự có ý nghĩa và thành công, chúng ta cần phải có trí tuệ, đó là sự tu tập đón nhận sự gia trì từ đức Phật Trường Thọ. Không phải chúng ta chỉ cần trì câu chân ngôn Om A Ra Ma Ni Zi Wan Taye Soha suốt ngày.

Cách tu tập về sự khiêm tốn hạ ngã

Cách tu tập về sự khiêm tốn hạ ngã

Nhờ nhận ra những lỗi lầm sẽ giúp chúng ta hạ ngã khiêm tốn. Do hạ ngã khiêm tốn thấy vô ngã trong thiện hạnh, mới loại trừ được tâm kiêu ngạo và mới có thể đi vào con đường giác ngộ giải thoát. Và nhờ thế sẽ loại trừ được tất cả chướng ngại, khiển trừ được tất cả những chướng ngại liên quan đến làm ngắn cuộc sống, làm ngắn tuổi thọ của chúng ta. Đó là thông điệp của đức Tôn Thắng Độ Mẫu, dạy chúng ta tu tập về sự khiêm tốn hạ ngã.

Trong phương pháp tu tập của đức Tôn Thắng Độ Mẫu chúng ta cần phải sám hối tội lỗi bởi do rất nhiều nghiệp bất thiện trong nhiều đời chúng ta mới tạo nên những chướng ngại về tuổi thọ, chướng ngại về mạng sống. Cho nên tu tập về đức Tôn Thắng Độ Mẫu sẽ là phương pháp tu tập để hạ mình, khiêm tốn và sám hối tội lỗi. Nó liên hệ đến việc thực hành thiện hạnh.

Ví dụ sự gia trì của đức Bạch Độ Mẫu chúng ta sẽ làm rất nhiều thiện hạnh lợi ích cho cuộc đời, lợi ích cho mọi người. Nhưng trong lúc thực hành thiện hạnh nếu chúng ta không tu tập về đức Tôn Thắng Độ Mẫu thì chính những thiện hạnh chúng ta làm được sẽ tự nâng cao bản ngã của mình, chúng ta sẽ kiêu căng, ngạo nghễ, chúng ta sẽ tự đưa cao mình lên. Và như vậy thì tất cả những thiện hạnh ấy trở thành ma sự đi vào con đường của sự đọa lạc. Chính vì thế khi thực hành những thiện hạnh, bên cạnh đó chúng ta cần phải tu tập về đức Tôn Thắng Độ Mẫu để khiêm tốn hạ mình.

Loại Trừ Được Tâm Kiêu Ngạo Mới Có Thể Đi Vào Con Đường Giác Ngộ Giải Thoát

Để khiêm tốn hạ mình chúng ta cần sám hối tịnh hóa. Cho nên sự tu tập không phải chỉ là quán tưởng về đức Tôn Thắng Độ Mẫu, trì tụng nghi quỹ của Ngài. Đương nhiên việc quán tưởng và trì tụng là một phần quan trọng nhưng không phải là tất cả, mà phần quan trọng hơn, mỗi chúng ta cần phải quán chiếu lại chính những nhược điểm, những sở đoản của mình để thấy mình yếu kém, thấy những bất thiện của mình, dơ tay cất bước tội đã ngang đầu, phải nhận ra những lỗi lầm của mình để thành tâm sám hối.

Nhờ nhận ra những lỗi lầm sẽ giúp chúng ta hạ ngã khiêm tốn. Do hạ ngã khiêm tốn thấy vô ngã trong thiện hạnh, mới loại trừ được tâm kiêu ngạo và mới có thể đi vào con đường giác ngộ giải thoát. Và nhờ thế sẽ loại trừ được tất cả chướng ngại, khiển trừ được tất cả những chướng ngại liên quan đến làm ngắn cuộc sống, làm ngắn tuổi thọ của chúng ta. Đó là thông điệp của đức Tôn Thắng Độ Mẫu, dạy chúng ta tu tập về sự khiêm tốn hạ ngã và loại trừ tâm kiêu ngạo.

Thường Xuyên Tư Duy Quán Chiếu Về Giáo Pháp Để Trí Tuệ Sáng Suốt Hơn

Để cuộc sống của chúng ta thực sự có ý nghĩa và thành công, chúng ta cần phải có trí tuệ, đó là sự tu tập đón nhận sự gia trì từ đức Phật Trường Thọ. Không phải chúng ta chỉ cần trì câu chân ngôn Om A Ra Ma Ni Zi Wan Taye Soha suốt ngày.

Dù chúng ta trì suốt ngày mà không đưa vào đời sống, việc trì niệm ấy rất là tốt nhưng không phải là tất cả sự thực hành. Bên cạnh việc trì niệm cho câu chân ngôn ấy, chúng ta cần lắng nghe đón nhận giáo pháp từ các bậc Thầy. Nếu chúng ta không lắng nghe đón nhận giáo pháp từ các bậc thầy chúng ta sẽ không có định hướng đúng đắn.

Sau khi nghe pháp rồi, chúng ta không phải nghe pháp để kết duyên mà mỗi ngày về phải thường xuyên quán chiếu, suy tư, tư duy để làm cho mình thuần thục với những trí tuệ, với những chân lý của vũ trụ. Chúng ta cần tư duy quán chiếu từng ngày để trí tuệ ngày một sáng suốt hơn.

Như vậy chúng ta cần sự gia trì của đức Phật Trường Thọ để có khả năng lắng nghe với trí tuệ, quán chiếu với trí tuệ và thiền định với trí tuệ, và rút cuộc là để nhận ra bản chất chân thật của cuộc sống và loại trừ tâm kiêu ngạo. Đó là phương pháp tu tập của đức Phật Trường Thọ.

Như vậy tu tập về phương pháp Tam Bộ Trường Thọ đều cần phải ứng dụng trong đời sống, không phải là chúng ta tu tập trong tịnh thất, trong chùa hay trong những nơi linh thiêng, mà sự tu tập này chúng ta cần đem theo bên mình, đi vào trong từng hoạt động đời sống thường nhật. Mỗi lời nói, mỗi hoạt động, mỗi thiện hạnh đều gắn kết với định hướng của Tam Bộ Trường Thọ về hoạt động, về hạ mình và trí tuệ. Như thế mới là con đường đúng đắn tu tập về ý nghĩa của đức Tam Bộ Trường Thọ. Xin các phật tử đừng lãng phí kiếp người, từng ngày từng giờ từng đêm, chúng ta hãy dành thời gian ứng dụng Phật pháp, ứng dụng sự gia trì của Tam Bộ Trường Thọ sẽ giúp chúng ta sống có ý nghĩa và lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Đó là những phần giải thích một cách sơ lược ngắn về Tam Bộ Trường Thọ tức là đức Phật Trường Thọ, đức Bạch Độ Mẫu và đức Tôn Thắng Độ Mẫu.

Theo www.drukpavietnam.org

Theo hoasenphat.com

Tìm hiểu vấn đề ăn chay trong Phật giáo

Tìm hiểu vấn đề ăn chay trong Phật giáo

Tại sao Phật giáo Nguyên Thuỷ lại không coi trọng việc ăn chay? Tại sao Đức Phật ăn mặn nhưng lại được giác ngộ? Phật giáo Đại Thừa lại đưa ra chế độ ăn chay nghiêm ngặt cho các tu sĩ của mình? Hãy xem hết bài viết này và tự đưa ra cho mình một lựa chọn tốt nhất nhé.

Tìm hiểu vấn đề ăn chay trong Phật giáo

Tìm hiểu vấn đề ăn chay trong Phật giáo

Ăn chay hay ăn mặn là đề tài tranh cãi của nhiều người, những người theo đạo Phật cho rằng, động vật cũng giống như mình, chúng có quyền sống và mưu cầu hạnh phúc nên việc ăn thịt chúng là trái với đạo lý và phi nhân đạo, nhất là với một người theo Phật giáo thì điều này là không nên!

Chúng Ta Nên Ăn Chay Hay Ăn Mặn?

Để đưa ra cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề này, Hoa Sen Phật xin giới thiệu những ưu điểm và nhược điểm của việc ăn chay và ăn mặn, để chúng ta có lựa chọn phù hợp với thể trạng cơ thể mình, phù hợp với con đường phát triển tâm linh của chúng ta.

Tại sao Phật giáo Nguyên Thuỷ lại không coi trọng việc ăn chay? Tại sao Đức Phật ăn mặn nhưng lại được giác ngộ? Phật giáo Đại Thừa lại đưa ra chế độ ăn chay nghiêm ngặt cho các tu sĩ của mình? Hãy xem hết bài viết này và tự đưa ra cho mình một lựa chọn tốt nhất nhé.

Những Ưu Và Nhược Điểm Khi Ăn Mặn

Thịt là một nguồn cung cấp hoàn hảo của protein, nó cung cấp tất cả các axit amin mà cơ thể chúng ta cần. Amino axit là cần thiết để ngăn ngừa mất khối lượng cơ thể, bảo vệ sức khoẻ hô hấp và duy trì một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh. Theo trang web của Trường y tế cộng đồng Harvard, người lớn trung bình nên tiêu thụ khoảng 0,8 gam protein cho mỗi kg cân nặng, nghĩa là khoảng 64 gam cho người lớn nặng 65 kg. Thịt nạc đỏ, cá và gia cầm là những nguồn protein tốt hơn trong chế độ ăn uống lành mạnh.

Ưu Điểm Khi Ăn Mặn

Vitamin B12: Vitamin B12 chỉ tìm thấy trong thịt, cá, trứng và sữa, mặc dù đôi khi nó được thêm vào ngũ cốc và margarine. Điều quan trọng là sự hình thành các tế bào hồng cầu và các sợi thần kinh. Nếu cơ thể của chúng ta không sản sinh đủ hồng cầu, điều này có thể dẫn đến thiếu sắt hay được gọi là thiếu máu.

Protein: Hai phần ba chất đạm xuất phát từ thịt, cá, trứng và thực phẩm bơ sữa. Tuy nhiên, protein cũng có thể được tìm thấy trong các sản phẩm ngũ cốc, hạt và xung. Các nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết chúng ta ăn nhiều chất đạm mà chúng ta cần. Khẩu phần khuyến cáo là 45 gram cho phụ nữ và 55 gam cho nam giới.

Sắt: Sắt từ nguồn động vật dễ hấp thu hơn sắt từ nguồn thực vật. Điều này là do các chất khác nhau chứa sắt từ các nguồn thực vật có thể liên kết với nhiều thành tố khác, giảm sự hấp thụ.

Tuy nhiên, Vitamin C trong trái cây và rau cải giúp hấp thụ loại chất sắt này. Người ăn chay nên uống một ly nước trái cây với ngũ cốc để giúp hấp thụ sắt vì nó thúc đẩy môi trường axit dễ hấp thụ hơn.

Omega 3: Các nghiên cứu chỉ ra rằng hàm lượng axit béo omega-3 trong cá thu, cá trích và cá mòi cao giúp giữ máu khỏe và ngăn chặn sự hình thành cục máu đông. Nó đã được công nhận rằng ăn cá bảo vệ chống lại một số điều kiện bao gồm bệnh tim và cholesterol cao.

Nhược Điểm Của Việc Ăn Mặn

Chất béo bão hòa: Thịt chứa chất béo bão hòa có thể ngăn chặn sự hấp thụ chất béo thiết yếu – quan trọng để duy trì cấu trúc tế bào. Quá nhiều chất béo bão hòa có thể làm cho các tế bào của cơ thể ít linh hoạt hơn và ảnh hưởng đến dòng chất dinh dưỡng trong và ngoài tế bào.

Tiêu thụ nhiều axit béo có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu và do đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim.

Các nhà dinh dưỡng khuyên bạn nên ăn thịt nạc bên cạnh thịt mỡ bởi vì nó chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao hơn và lượng chất béo thấp hơn.

Ngoài ra, việc nhiều người dùng thủ thuật để cho vật nuôi phát triển không tự nhiên dẫn đến nhiều hoá chất có hại cho sức khoẻ trong thịt, cá, trứng…

Những Ưu Và Nhược Điểm Khi Ăn Chay

Theo chế độ ăn uống của chúng ta nên bao gồm 5 phần rau mỗi ngày, theo Trung tâm y tế Đại học Maryland, theo thống kê của Trường y tế Công cộng Harvard, phần lớn người Mỹ đều ăn không quá ba phần trái cây và rau quả. Rau cung cấp nhiều lợi ích cho sức khoẻ, bao gồm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, duy trì sức khoẻ dạ dày-ruột, giữ tầm nhìn tốt và giảm nguy cơ ung thư nhất định.

Ưu Điểm Khi Ăn Chay

Protein: Chế độ ăn chay đáp ứng các yêu cầu về protein, mặc dù lượng protein chúng cung cấp thấp hơn so với việc ăn mặn. Điều này có thể có lợi hơn là chế độ ăn mặn vì lượng protein quá cao có liên quan đến chứng loãng xương và suy thận.

Vitamin: Chất chống oxy hoá được tìm thấy trong Vitamin C, Vitamin E và Beta Carotene là cơ chế bảo vệ cơ thể của chúng ta chống lại các phân tử hoạt tính cao có thể dẫn đến lão hóa và bệnh tật.

Những người ăn chay dùng nhiều trái cây giàu chất chống oxy hóa và rau quả có khoảng một nửa khả năng bị ung thư so với những người ăn ít.

Các chất chống oxy hoá đặc biệt có liên quan đến nguy cơ ung thư thấp bao gồm carotenoid lycopene (được tìm thấy trong cà chua đã qua chế biến và kết hợp với tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt, phổi và tiêu hoá thấp hơn), vitamin E (liên quan đến tỉ lệ ung thư đại tràng và ung thư cổ tử cung), Selen khoáng.

Chất béo: Người ăn chay có xu hướng ăn ít chất béo bão hòa hơn, vì những chất này có trong thịt và các sản phẩm từ sữa. họ dùng nhiều chất béo chưa bão hòa hơn, chẳng hạn như dầu ô liu, dầu lạc và dầu hướng dương. Một lượng lớn chất béo bão hòa có thể làm tăng cholesterol máu và dẫn đến bệnh tim.

Nhược Điểm Của Việc Ăn Chay

Vitamin B12: Không đủ vitamin B12 gây ra một số lo ngại cho người ăn chay, vì nó chỉ tìm thấy trong thịt, cá, trứng và sữa.

Tuy nhiên, chỉ cần một lượng nhỏ B12 và người ăn chay có thể lấy nó từ trứng và sữa. Vitamin B12 cũng thường được thêm vào chiết xuất từ ​​nấm men, sữa đậu nành và một số loại ngũ cốc.

Protein: Chỉ một phần tư protein có nguồn gốc từ các sản phẩm ngũ cốc, hạt…do đó như một người ăn chay, điều quan trọng là phải tìm hiểu về các nguồn protein khác. Các sản phẩm đậu nành, bánh mì, ngũ cốc và các loại thực phẩm từ sữa.

Ngoài ra, do nhu cầu kinh tế nên nhiều người đã dùng hoá chất tác động trực tiếp đến việc phát triển của thực vật, khiến chúng nhìn tươi hơn, phát triển nhanh hơn dẫn đến việc người ăn chay cũng tiếp nhận một số chất độc hại vào cơ thể thông qua nguồn thực vật bẩn này.

Ý Nghĩa Của Việc Ăn Chay Trong Phật Giáo

Ăn chay không phải là một phần của truyền thống Phật giáo ban đầu và chính Đức Phật không phải là người ăn chay. Đức Phật đã nhận thức ăn của mình bằng cách đi khất thực hoặc được mời đến nhà của những người ủng hộ ông và trong cả hai trường hợp, ông đã ăn những gì ông được cho. Trước khi giác ngộ, ông đã thử nghiệm các chế độ ăn khác nhau bao gồm chế độ ăn chay, nhưng cuối cùng ông đã từ bỏ chúng vì tin rằng chúng không đóng góp vào sự phát triển tâm linh.

Ý nghĩa của việc ăn chay trong Phật giáo

Đức Phật thường được miêu tả là ăn mặn, ông đề nghị dùng thịt làm thực phẩm chính vì lý do thực tiễn. Tuy nhiên, Phật tử dần dần cảm thấy không thoải mái về việc ăn mặn. Vào năm 257 trước công nguyên, vua Asoka cho biết, trái ngược với thời trước, chỉ có hai con công và một con nai bị giết để cung cấp thực phẩm trong các nhà bếp của hoàng gia và rằng ngay cả việc này cũng sẽ bị dừng lại.

Tới thế kỷ 2, việc ăn thịt đã trở nên không thể chấp nhận, đặc biệt là trong số những người theo Phật giáo Đại Thừa, mặc dù các cuộc xung đột chống lại nó trong các công trình như kinh Lankavatara cho thấy nó vẫn còn phổ biến hoặc ít nhất là một điểm tranh cãi. Tantric văn bản từ thế kỷ thứ 7 và thứ 8 trở đi, thường xuyên khuyến cáo cả uống rượu và ăn thịt và cả hai đều được coi là phù hợp để cung cấp cho các vị thần. Điều này có thể là một biểu hiện của sự tự do khỏi quy ước mà Tantra dạy, vì nó là một cuộc phản đối chống lại các nhà truyền giáo Đại Thừa mà những người thực hành như kiêng uống rượu và thịt đã trở thành một sự thay thế cho sự thay đổi tinh thần đích thực.

Phật giáo Đại Thừa cho rằng, ăn mặn ảnh hưởng rất nhiều đến lòng từ bi, nó là biểu hiện của Ái dục, tham khát mưu cầu lợi ích cho bản thân mà không quan tâm đến chúng sinh. Phật giáo được biết đến rộng rãi vì những lời dạy của nó về lòng từ bi, thậm chí là đối với động vật. Vậy tại sao chúng ta lại cổ xuý cho việc ăn mặn? Những người ăn mặn sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng bởi quy luật của Luật nhân quả, họ sẽ tái sinh trong một cõi không tốt!

Những người theo đạo Phật ăn chay có một lập luận đơn giản và hấp dẫn để ủng hộ lý do của họ. Ăn mặn khuyến khích một ngành công nghiệp gây ra sự tàn ác và cái chết cho hàng triệu con vật và một người thực sự từ bi sẽ muốn giảm bớt mọi đau khổ này. Bằng cách từ chối ăn thịt người ta có thể làm được điều đó.

Ngày nay người ta thường nói rằng các nhà sư Đại Thừa là người ăn chay và Nguyên Thuỷ thì không. Tuy nhiên tình hình phức tạp hơn một chút. Nói chung, những người theo Phật giáo Nguyên Thuỷ không có chế độ ăn kiêng mặc dù không tìm thấy các nhà sư và Phật tử ở Sri Lanka là những người ăn chay nghiêm ngặt. Những người khác kiêng thịt và chỉ ăn cá. Các nhà sư Trung Quốc và Việt Nam thực sự ăn chay và cộng đồng Phật tử cố gắng làm theo mặc dù nhiều người không. Trong số những người theo Phật giáo Tây Tạng và Phật giáo Nhật Bản ăn chay trường là rất hiếm.

Ý Kiến Trái Chiều Về Việc Ăn Chay

Ăn chay hay ăn mặn là đề tài gây tranh cãi suốt nhiều thập kỷ, một số người theo hoặc không theo Phật giáo cũng có những lập luận để bảo vệ quan điểm ăn thịt của mình:

Việc ăn chay không giúp cho một người phát triển lòng từ bi trong bản chất nội tại của họ, bằng chứng là nhiều người ăn chay trường nhưng khi gặp chuyện về quyền lợi cá nhân thì họ cũng sân si và xuất hiện những suy nghĩ, hành động tiêu cực để chống lại người khác. Một người ăn chay trường đã lấy cây đập chết con chó khi nó cắn vào chân đứa con gái bé bỏng của họ.
Tại sao lại trách con sói ăn thịt cừu? Nó đang làm đúng chức năng mà nó được tạo ra, phải chăng đó là sự Vô minh mà giáo lý Phật giáo thường nói đến?
Đức Phật là người ăn mặn, ông đã ăn những gì mà người ta cho, nhưng ông đã giác ngộ. Điều đó chứng tỏ việc ăn chay không đóng góp nhiều trong việc phát triển tâm linh.
Khi ăn mặn thì chúng ta gián tiếp và có một phần trách nhiệm về cái chết của con vật, nhưng chúng ta ăn chay thì điều này cũng tương tự. Nông dân cày xới mặt đất gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của côn trùng và động vật nhỏ, họ phun thuốc tiêu diệt rất nhiều loài côn trùng để có thực vật xanh tươi cho người ăn chay. Nhiều loài động vật và côn trùng xem thực vật là ngôi nhà của chúng, điều kiện để chúng tồn tại và phát triển.
Chúng ta ăn chay vì cho rằng thực vật vô tri vô giác, nhưng liệu có chính xác? Thực vật giao tiếp với nhau theo cách của chúng, chúng cũng cần nước và ánh sáng để sống, những hạt mầm là con, và phấn hoa là cách mà chúng sinh sản.
Đức Phật cho rằng có hàng triệu sinh vật trong 1 ly nước, nhưng tại sao những người ăn chay lại uống chúng? Chúng có thích được sống trong môi trường cơ thể chúng ta hay không? Không! Chúng ta đã áp đặt như thế vì chúng ta cần tồn tại.
Người ăn mặn có thể có trái tim thanh tịnh giống như người ăn chay. Theo giáo lý của Đức Phật, điều quan trọng là chất lượng của trái tim chứ không phải là chế độ ăn uống của bạn. Nhiều Phật tử hết sức quan tâm đến việc không ăn thịt nhưng họ không quan tâm đến việc ích kỷ, gian dối, độc ác hoặc ghen tị. Họ thay đổi chế độ ăn uống của họ vì nó dễ dàng, trong khi bỏ qua việc thay đổi trái tim của họ là một điều khó khăn. Cho dù bạn là người ăn chay hay không, hãy nhớ rằng thanh lọc tâm trí là điều quan trọng nhất trong Phật giáo.
Một con sói trong bầy cừu không nguy hiểm bằng một con cừu trong bầy sói, nhưng nếu một con cừu trong bầy hươu thì sao? Chúng ta sẽ có một đồng cỏ xanh yên bình và hạnh phúc.

Ăn chay hay ăn mặn, ai cũng có lựa chọn cho riêng mình, mặt trời vẫn mọc vào mỗi buổi sáng và trái đất vẫn quay trong một thời gian dài…rất dài!

Theo hoasenphat.com

Tìm hiểu nét tương đồng và khác nhau của Phật giáo và Thiên Chúa giáo

Tìm hiểu nét tương đồng và khác nhau của Phật giáo và Thiên Chúa giáo

Ngũ giới của Phật giáo (hình thức kiêng cữ, nói dối, trộm cắp, vô đạo đức tình dục) được hầu hết các Kitô hữu hoan nghênh.

Tìm hiểu nét tương đồng và khác nhau của Phật giáo và Thiên Chúa giáo

Tìm hiểu nét tương đồng và khác nhau của Phật giáo và Thiên Chúa giáo

Hai tôn giáo lớn, Phật giáo và Thiên Chúa giáo thường được so sánh, sự giống nhau và khác nhau giữa hai tôn giáo này như thế nào là câu hỏi mà nhiều người với tư tưởng cởi mở quan tâm, bởi vì mặc dù chúng có nhiều khác biệt, nhưng nhiều người đã cố gắng kết hợp lý tưởng của hai tôn giáo.

Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo

Nhà lãnh đạo tôn giáo của Thiên Chúa giáo là Đức Giáo Hoàng, trong khi người đứng đầu Phật giáo là Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mặc dù có sự khác biệt trong học thuyết, cả hai nhà lãnh đạo đều thừa nhận sự hiện diện của nhau với sự tôn trọng nhất định. Khác với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác có khuynh hướng làm mất uy tín hoặc tìm cách chống lại các nhà lãnh đạo tôn giáo đối thủ. Trên thực tế, Đức Giáo Hoàng đã đi xa đến mức tuyên bố rằng, Phật giáo đã thâm nhập vào nền văn hoá phương Tây với những hiệu ứng tích cực.

Để xác định xem một tôn giáo có tương thích với tôn giáo khác hay không thì điều quan trọng là phải so sánh và đối chiếu chúng. Về mặt tương đồng, Thiên Chúa giáo và Phật giáo đều sử dụng các nhà sư hay linh mục, để thực hành và truyền bá đức tin của họ trong quần chúng. Cả hai tôn giáo đều đánh giá cao hòa bình, nhân ái và truyền bá những hành động tốt để phát triển tinh thần của một người.

Cả Đức Phật hay Chúa Giê-su Kitô đã truyền dạy giáo lý của mình trong suốt cuộc đời. Trong cả hai trường hợp, lời dạy của họ đã được viết thành văn bản sau nhiều năm khi họ rời khỏi thế giới. Khoảng cách giữa lời giảng dạy của họ và phiên bản bằng văn bản có nghĩa là luôn luôn có tiềm năng cho lỗi và hiểu nhầm. Ngoài ra, khi các tôn giáo phát triển, chúng tiến hoá theo những cách khác nhau, đôi khi bị ảnh hưởng rất nhiều bởi “cái tôi” của người truyền bá và giảng dạy.

Điểm Giống Nhau Giữa Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo

Phật giáo và Thiên Chúa giáo điều được sáng lập bởi một người Thầy tâm linh và thu nhận môn đệ.
Cả hai tôn giáo điều có hệ thống để hỗ trợ, truyền dạy giáo lý của mình cho mọi người như: Tăng đoàn, nhà sư, tăng ni…bên Phật giáo. Linh mục, giám mục, ni cô…bên Thiên Chúa giáo.
Cả hai điều có ngày lễ chính: Ngày lễ Phật đản (lễ Vesak) để mừng ngày sinh của Đức Phật. Bên Thiên Chúa giáo là ngày lễ Giáng sinh và Phục sinh.
Được dạy thông qua việc sử dụng các giáo lý nhân văn.
Cả Đức Chúa Giê-su và Đức Phật đều cố gắng cải cách những thực tiễn xã hội. Chúa Giê-su Kitô chỉ trích những người cho vay tiền trong đền thờ. Đức Phật Thích Ca chỉ trích hệ thống đẳng cấp và đạo đức giả của người Brahman.
Cả hai đều là người bình thường, giản dị. Đức Phật chấp nhận tất cả các giai cấp làm học trò của mình. Chúa Kitô dạy triết học của ông cho nhiều người mà ông gặp.
Ngũ giới của Phật giáo (hình thức kiêng cữ, nói dối, trộm cắp, vô đạo đức tình dục) được hầu hết các Kitô hữu hoan nghênh.
Cả hai tôn giáo đều nhấn mạnh đến cuộc sống đạo đức, từ bi và tình yêu đối với người khác.
Cả hai đều dạy cách vượt qua những thế lực thù hận thông qua sức mạnh của tình yêu.
Phật giáo và Thiên Chúa giáo điều khuyến khích những người thực hiện các bước tâm linh để cải thiện phúc lợi của họ. Những người đạo Thiên Chúa thường xuyên đọc kinh thánh và cầu nguyện trong các bữa ăn của mình. Điều này cũng phổ biến trong Phật giáo bởi đức tin nơi Đức Phật. Đặc biệt trong các truyền thống như Tịnh độ Phật giáo, nhấn mạnh lời cầu nguyện cho Đức Phật.
Cả hai tôn giáo đều khuyến khích các tín đồ của mình làm từ thiện đối với người nghèo.
Cả hai tôn giáo đều có nơi tập trung để mọi người đến cầu nguyện và phát triển tâm linh như chùa, nhà thờ…tu viện.
Cả hai đều mong muốn sự hoàn hảo tinh thần, mặc dù họ có cách tiếp cận khác nhau.
Cả hai đều tìm cách vượt qua thế giới vật chất. Họ tin rằng hạnh phúc thực sự sẽ thu được từ các giá trị tinh thần và ý thức tâm linh.
Điểm Khác Nhau Giữa Phật Giáo Và Thiên Chúa Giáo

Đấng Tạo Hoá

Phật tử không nói về một Đấng Tạo Hoá. Trong Thiên Chúa giáo, khái niệm về Đấng Tạo Hoá rất phổ biến. Trong kinh thánh Cựu Ước, Đức Chúa Trời xuất hiện như là một người giải quyết vấn đề công lý, là người tạo ra và kiểm soát mọi sự vật hiện tượng trên trái đất này, đây là một khái niệm không có trong Phật giáo.

Đức Phật nói rằng: “Tôi là một người đàn ông, không phải là một vị thần, đừng nhìn tôi mà hãy nhìn vào pháp của tôi, và dùng đó làm ánh sáng soi sáng cho chính mình”. Chúa Jesu : ” Tôi là con của Đức Chúa Trời và là ánh sáng của thế giới”.

Thiền định

Trong số các thực hành của Phật giáo, thiền định là ở đầu danh sách, điều này không đáng ngạc nhiên vì như Đức Phật đã đạt được giác ngộ trong khi hành thiền. Thực hành thiền và chánh niệm là trọng tâm của Phật giáo. Trong khi đó, Thiên Chúa giáo đặt trọng tâm vào lời những cầu nguyện.

Mục đích chính

Phật giáo tập trung nhiều hơn vào nỗ lực cá nhân để phát triển tâm linh, thoát khỏi đau khổ và đạt được giác ngộ. Thiên Chúa giáo nhấn mạnh hơn vào ân điển, hồng ân của Thiên Chúa (người tạo ra sự sống trên trái đất này), yêu mến Thiên Chúa và tuân theo các điều răn của Ngài, truyền bá để người khác cũng được cứu khỏi thế giới này.

Vòng luân hồi

Phật giáo nhấn mạnh đến chu kỳ tái sinh vô tận và ý tưởng về luân hồi. Thiên Chúa giáo dạy chúng ta chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để lên thiên đàng hay xuống địa ngục.

Tội lỗi

Tội lỗi và xưng tội không phải là một khái niệm trong Phật giáo, nhưng Luật nhân quả là một học thuyết có liên quan đến vấn đề này, gieo nhân lành thì sẽ gặp lành, gieo nhân ác thì sẽ gặp ác. Nếu một người đã gieo nhân ác nhưng muốn thay đổi thì người đó phải hành thiện rất nhiều để tác động vào nhân mình đã gieo khiến nó biến mất hoặc thay đổi sang một dạng quả khác tích cực hơn.

Những người theo đạo Thiên Chúa xưng tội với Thiên Chúa, thông qua người đại diện là linh mục, và những tội lỗi sẽ mất hoặc giảm đi rất nhiều trong tâm trí của họ. Đức Chúa Trời luôn tha thứ mọi lỗi lầm của những người con ngoan đạo.

Sự cứu rỗi và giải phóng

Thiên Chúa giáo nhấn mạnh khái niệm “cứu độ”, sự cứu rỗi qua sự chấp nhận của Đức Chúa Giê-su. Đối với những người tin tưởng vào Chúa Giê-su Kitô, các Kitô hữu tin rằng sẽ có một sự sống tốt hơn trên trời gọi là Thiên đàng. Phật giáo có một sự nhấn mạnh khác biệt, họ tin rằng một cá nhân phải làm việc cho sự giải phóng cá nhân của mình, giai đoạn này có thể trải qua nhiều kiếp trong chu kỳ tái sinh. Một Phật tử tin rằng niềm tin vào Đức Phật là không đủ, con người phải tìm kiếm và trải nghiệm Niết bàn cho riêng mình.

Không phải ngẫu nhiên mà Phật giáo và Thiên Chúa giáo phát triển mạnh trên thế giới, dù chúng ta theo tôn giáo nào thì mục đích chính cũng là giúp con người sống hiền hoà, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng và phát triển thế giới này theo cách tích cực nhất.

Theo hoasenphat.com

Tìm hiểu triết lý sống của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

Tìm hiểu triết lý sống của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

Bạn đã biết Phật pháp có thể được thực hành qua cách chúng ta tự cách ly với đối tượng phiền não bên ngoài hoặc xa lìa các nguyên nhân phiền não bên trong, các xúc tình tiêu cực như tham ái, sân giận, đố kỵ, kiêu mạn, si mê.

Tìm hiểu triết lý sống của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

Tìm hiểu triết lý sống của Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa

Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa là người đứng đầu của dòng Truyền thừa Drukpa, một trường phái mới của Phật giáo Tây Tạng. Sau đây là những triết lý sống hay và ý nghĩa của vị lãnh đạo tinh thần Phật giáo mà chuyên mục Góc Suy Ngẫm sưu tầm được. Những câu nói hay và ý nghĩa của Đức Pháp Vương đã ảnh hưởng tích cực đến với nhiều người, đặc biệt là những người đang cố gắng hoàn thiện mình trên con đường giác ngộ Phật giáo.

Ảnh Hưởng Từ Những Người Bạn

Bậc thiện tri thức không nhất thiết phải là một tu sĩ hay hành giả. Đa số bạn bè thế gian có thể gây ra cho bạn nhiều phiền toái, song một số người khác cũng sẽ tạo ảnh hưởng tốt tới bạn. Quan trọng người bạn đó phải có phẩm hạnh tâm linh nhờ vào tư chất sẵn có hoặc tích lũy qua quá trình tu tập. Nếu không có phẩm hạnh này, từ trường tiêu cực của anh ta sớm muộn cũng gây hại cho bạn.

Vì thế, hãy hết sức thận trọng khi tìm bạn. Thời nay, con người thường không thể sống thiếu bạn bè vì nỗi sợ hãi cô đơn tuyệt vọng. Nhiều người tuyên bố không cần bạn bè, họ có thể bỏ qua nhu cầu này, nhưng sự thật không phải vậy. Theo quan kiến Phật Pháp, chúng ta thuộc về cõi “Dục giới”, vì thế con người luôn có xu hướng tìm kiếm bạn bè đồng loại. Thực ra điều này chẳng có gì xấu. Tuy nhiên, bạn cần cẩn thận suy xét người bên cạnh xem họ có ảnh hưởng tốt hay xấu tới mình.

Chốn Nương Tựa Bền Vững

Chúng ta cần sự bảo hộ trước nhân khổ luôn hiện hữu và cảm thọ khổ quá lớn trong cuộc sống. Chốn nương tựa vững bền đó chính là ba ngôi Tam Bảo Phật Pháp Tăng. Vì đã tự vượt thoát khỏi luân hồi, các Ngài luôn sẵn lòng trợ giúp chúng ta. Có rất nhiều bậc hộ trì khác đang tồn tại trong cõi này nhưng do chưa tự siêu việt luân hồi, kẻ thù bên trong chính họ vẫn tiếp tục khuấy động phiền não. Do vậy, dù rất muốn giúp đỡ chúng ta, sự bảo hộ của họ vẫn chưa thể rốt ráo.

Có nhiều đệ tử của một vài truyền thống tín ngưỡng thường chọn đối tượng quy y là cây cối, mặt trời, mặt trăng, phiến đá. Ở Nepal, tôi đã từng thấy nhiều người chọn cây cầu làm đối tượng quy y. Khi nhìn thấy cây cầu, họ dừng xe lại, bước xuống và cúi chào. Cách hành lễ này thật buồn cười. Tôi nghĩ không phải họ hướng tới cây cầu, mà thực chất họ đang hướng đến các quỷ thần trú ngụ nơi đấy. Còn rất nhiều chuyện lạ lùng như vậy diễn ra trên thế giới. Dĩ nhiên, theo quan điểm của những người này, cách hành xử như vậy rất bình thường, còn tôi lại thấy thật kỳ cục.

Đừng Trì Hoãn Sự Thực Hành

Bạn đã biết Phật pháp có thể được thực hành qua cách chúng ta tự cách ly với đối tượng phiền não bên ngoài hoặc xa lìa các nguyên nhân phiền não bên trong, các xúc tình tiêu cực như tham ái, sân giận, đố kỵ, kiêu mạn, si mê. Tuy nhiên, hiểu biết thôi chưa đủ, bạn cần đưa lý thuyết vào sự thực hành tâm linh và đời sống.

Cây có trồng mới cho được quả, bạn không nên chỉ đón nghe rồi chờ điều tốt đẹp xảy ra. Hãy tinh tấn thực hành giáo pháp đã thụ nhận, nếu không những tập khí bất thiện và thói quen cố hữu ăn sâu trong tiềm thức sẽ khuấy đảo, cản trở bạn trong việc trải nghiệm chân hạnh phúc và đón nhận thành tựu tâm linh. Thiếu đi một chút quyết tâm, vắng đi một chút động cơ, bạn sẽ mãi mãi trì hoãn sự thực hành Pháp. Vậy thì đừng chần chừ, hãy biết vượt qua chính mình, dũng cảm đón nhận thách thức với tâm tinh tấn và vô úy.

Điều Gì Đóng Vai Trò Chính Trong Việc Thực Hành Phật Pháp

Ví dụ, bạn đang tham gia một khóa chuyên tu nhưng không biết vì sao mình làm điều này. Nếu không hiểu mục đích của việc tu tập, bạn sẽ đến, tham dự rồi ra về song vẫn không ý thức được điều gì đã thúc đẩy mình tới đây. Vì lý do mơ hồ, bạn đã tới đây và khi khóa tu kết thúc, bạn lại trở về nhà. Như vậy, có thể nói bạn chưa hoàn thành nhiệm vụ, hoặc mới được một phần, vì dù cũng tích lũy một chút công đức nhờ tham gia tu tập, trì tụng, nhưng bạn lại thiếu đi điều cơ bản là động cơ.

Động cơ có vai trò hàng đầu trong việc thụ nhận và thực hành Phật pháp. Thông thường, chúng ta thường thiếu động cơ rõ ràng và cũng chưa hiểu phải làm thế nào để phát khởi động cơ chân chính.

Chia Sẽ Kho Báu

Khi quy y, bạn trở thành đệ tử nương tựa Tam Bảo Phật- Pháp-Tăng, hướng tới thành tựu vì lợi ích chúng sinh. Muốn vậy, bạn phải có khả năng chia sẻ. Tài sản có ý nghĩa nhất bạn cần chia sẻ chính là hạnh phúc và để làm được điều đó, trước hết bạn cần được hạnh phúc. Hạnh phúc của bạn đến từ sự trưởng dưỡng Bi tâm, trí tuệ hiểu biết về Sức mạnh của Tình yêu thương, và các thiện hạnh tích lũy qua dòng thời gian. Khi thực sự hạnh phúc, bạn sẽ tự nhiên vui vẻ, tốt bụng và ân cần. Bạn chỉ đưa mắt nhìn một người là người đó đã tự nhiên cảm nhận được sự sẻ chia nơi bạn. Bạn chia sẻ nụ cười, hạnh phúc, chia sẻ kho báu tràn ngập niềm vui của mình. Như vậy là đủ.

Vậy chúng ta hãy tươi cười, ân cần, tử tế. Bạn cần có một trái tim hạnh phúc. Đây là lời nguyện của bạn khi phát tâm quy y: Từ nay trở đi, bạn bước chân trên con đường Bồ tát hạnh. Để không quên lời nguyện này, bạn được nhận pháp danh. Bạn nên dùng pháp danh thay cho tên thế tục, để mỗi khi ai đó gọi bạn bằng pháp danh, bạn lập tức nhớ tới lời thề nguyện của mình.

Chân Ngôn Của Trí Tuệ Và Tình Yêu Thương

Chân ngôn OM MANI PADME HUNG rất phổ biến và quen thuộc. Trong câu chân ngôn này, thuật ngữ MANI có nghĩa là ngọc báu, tương ứng với VAJRA, tức kim cương và tượng trưng cho tính không. Hai chữ PADMA, hoa sen, nêu biểu cho tình yêu thương và hành động. OM là chủng tử căn bản, được tạo thành từ ba âm A.U.M, nêu biểu Thân – Khẩu và Ý của vũ trụ. HUNG là chủng tử thành tựu.

Như vừa nói ở trên, giáo pháp của Đức Phật không đẩy chúng ta vào chỗ bất động, mà ngược lại cần hành động. Tâm từ bi khởi phát sẽ chuyển hóa thành tình yêu thương. Câu chân ngôn nhấn mạnh sự hợp nhất của VAJRA – trí tuệ và PADMA – tình yêu thương. Đây là chân ngôn có năng lực mạnh mẽ, giúp chúng ta diệt trừ chướng ngại, chứng đạt tự tính vạn pháp, gieo vào tâm những hạt giống trí tuệ và yêu thương.

Sinh Tử Biệt Ly

Vạn pháp đều vô thường theo dòng chảy thời gian. Dù trải qua năm tháng ngọt ngào, đến cuối cùng bạn vẫn phải chia ly thân bằng quyến thuộc. Sinh tử biệt ly là lẽ đời, ở bên nhau mãi là điều không thể. Cặp tri kỷ tưởng không thể xa rời, sớm hay muộn cũng nếm mùi ly biệt.

Tương tự, những gì bạn tích lũy, gây dựng suốt cuộc đời,của cải, tài sản, danh vọng, rồi cũng rời xa bạn. Bạn sẽ phải để lại tất cả phía sau lưng mà không làm gì khác được. Đến khi mạng chung, bạn sẽ phải lìa bỏ tấm thân suốt đời mình gắn bó, xác thân bị thiêu đốt hoặc lấp vùi dưới ba tấc đất sâu.

Hoá Thân Đức Quan Âm

Tất cả các bậc Thượng sư của Truyền thừa Drukpa đều là hóa thân của Đức Quan Âm. Khi kính lễ các Ngài, chúng ta được truyền cảm hứng từ những công hạnh, thành tựu Thân, Khẩu, Ý giác ngộ của các Ngài. Như tôi đã chia sẻ, nguồn cảm hứng này chính là ân phúc gia trì lớn nhất. Khi đã có cảm hứng, bạn sẽ không lùi bước trước khó khăn chướng ngại. Tâm tràn đầy cảm hứng giúp bạn trở nên vô cùng mạnh mẽ. Sự sách tấn đến từ cảm hứng, và cảm hứng bắt nguồn từ sự thực hành cầu nguyện, kính lễ, tri ân tới Thượng sư, tới truyền thừa khởi nguồn từ Đức Quan Âm.

Do vậy, chúng ta có động cơ mạnh mẽ để thực hành hạnh từ bi, nói cách khác là để đón nhận trí tuệ hiểu biết. Sự hiểu biết này là thiết yếu đối với chúng ta. Là hành giả, bạn cần quan tâm tới việc phát triển trí tuệ, nếu không, bạn sẽ hành xử theo ý thích bị chi phối bởi bản ngã và vô minh. Bạn nên hiểu biết về cội nguồn Quan Âm của Truyền thừa, nếu không bạn sẽ không thể phát khởi tâm chí thành. Thiếu lòng chí thành, thực hành của bạn sẽ không mang lại kết quả tích cực.

Tâm Xả Ly

Khi đạt tới trình độ có thể xả ly khỏi tâm bấn loạn, bạn sẽ có khả năng tận hưởng khía cạnh tốt đẹp của các pháp mà không bị phân tán bởi vọng tưởng phiền não. Bạn sẽ thấy thoải mái, bình đẳng trước những gì dễ chịu và cả những gì gây khó chịu. Bí quyết ở chỗ bạn đã biết tạo cho mình khoảng không gian an toàn, biết xả ly khỏi phần tâm khuấy động bên trong.

Xả ly tâm bên trong khỏi những phiền não bên ngoài là một pháp thực hành thú vị. Khi bị quấy rầy bởi điều gì đó là lúc thích hợp để bạn thực hành pháp này. Nếu không gặp phiền hà gì, bạn sẽ chẳng có điều kiện để thực hành. Nhưng nếu gặp phải nghịch cảnh, ví dụ như bị đối xử không tốt hay lừa dối thì đó là nhân duyên thích hợp để bạn thực hành sự xả ly bên trong. Khi gặp những tình huống bất như ý, chúng ta nên biết dừng lại, quán chiếu cảm xúc thay vì để xúc tình tiêu cực chiếm hữu sai xử tâm mình.

Vạn Pháp Huyễn Như

Trên nền tảng của trí tuệ, từ bi, những khái niệm về “tôi” và “của tôi” không còn quan trọng nữa. Chúng ta hiểu tính không là thuộc tính của vũ trụ và nhận ra rằng theo lẽ vô thường sự dịch chuyển diễn ra liên tục: vui có thể thành buồn, thù có thể thành bạn. Vạn pháp xoay chuyển, huyễn như và chúng ta có thể thích ứng với nhịp điệu cuộc sống, tự tại, vô ngại trong các mối quan hệ gia đình, công việc, bạn bè.

Trải Nghiệm Hạnh Phúc Hỷ Lạc

Mọi giáo pháp đều cần được trải nghiệm. Giáo pháp không phải là lý thuyết mà đến từ những trải nghiệm cuộc sống. Tất cả những gì Đức Phật hay bậc Thượng sư đã từng nêu, chính cuộc sống sẽ dạy lại cho bạn.

Hiện giờ, tâm vô minh của bạn đầy những phóng chiếu giả định nên lòng từ bi sẽ giúp bạn tĩnh lại và thư giãn. Sức mạnh của tình yêu thương và lòng bi mẫn sẽ giúp bạn trải nghiệm sự xả chấp khỏi đối tượng đau khổ. Trí tuệ thấu hiểu vạn pháp giúp sự xả chấp đó diễn ra tự nhiên êm ái. Kết quả của sự xả ly tích cực là bạn sẽ trải nghiệm niềm hạnh phúc hỷ lạc, trái với nỗi đau xé lòng khi bị chia cắt với những gì mình bám chấp luyến thương.

Cuộc Đời Là Một Canh Bạc

Kinh cũng dạy rằng, “Kẻ nào sống trong bóng tối của vô minh, sẽ không thể phân biệt được thiện ác”. Điều này nhắc tới sự thiếu trí tuệ hiểu biết. Tâm chúng ta bị che phủ bởi vô minh si ám khiến chúng ta không thể nhận biết điều gì đang diễn ra. Dù thừa học thức nhưng nếu thiếu trí tuệ, chúng ta vẫn sẽ bước đi trong tăm tối u mê.

Vì vậy nên đôi khi tôi ví cuộc đời này giống như canh bạc. Chúng ta cứ chơi, chơi tiếp, chơi mãi, có lúc trúng số nhưng phần lớn không được gì. Hôn nhân là một canh bạc, công việc là một canh bạc, con cái là một canh bạc, xây dựng nhà cửa cũng là một canh bạc. Cả cuộc đời chúng ta giống như một canh bạc! Bạn luôn muốn kết quả tốt nhưng lại chẳng thể làm gì ngoài nuôi chút hy vọng. Dù hy vọng cũng mang đến sự an ủi nhất định nhưng là hành giả tâm linh chúng ta không chấp nhận điều ấy. Bạn cần đối đầu trực diện và tìm cách gỡ bỏ tấm màn vô minh. Vô minh hay si ám chính là độc tố nguy hại nhất trong tam độc. Chính vô minh dẫn đến sân giận, vì si ám nên ta mới tham lam.

Kiểm Soát Thân Và Khẩu

Vì hiểu bản chất vạn pháp là tính không, ảo ảnh, vô thường, bạn sẽ không manh động trước nghịch cảnh mà dành thời gian để suy nghĩ về hành động cần làm, sẽ không lao mình vào những cuộc tranh luận, cãi vã vô nghĩa. Thậm chí dù tâm còn bị sân giận chi phối nhưng nhận thức này sẽ giúp bạn kiểm soát được đôi bàn tay (thân) và miệng (khẩu) để không gây hành động hoặc lời nói tổn hại đến người.

Trong Kinh đã dạy: “Tham ái và bám chấp vào người thân giống như những dòng nước xoáy; Sân giận và thù ghét kẻ địch giống như những ngọn lửa thiêu đốt”. Những yếu điểm này sẽ được tiêu trừ hoặc giảm dần cùng với sự trưởng dưỡng từ bi và trí tuệ hiểu biết trong tâm.

Cân Bằng Cuộc Sống

“Sống” có nghĩa là “nhận biết giá trị” và nhận thức đó giúp bạn có nhiều thời gian để hoàn thành vô số điều tốt đẹp. Qua các thực hành: lắng nghe, suy ngẫm và thiền định, cuộc sống của bạn sẽ trở lại cân bằng. Khi biết trân trọng tri ân, lắng nghe giáo pháp, dành thời gian suy ngẫm và thiền định, bạn sẽ dần trở nên thân thiện và hòa hợp với thế giới. Cuộc sống sẽ lại trở nên tốt đẹp tuyệt vời!

Những Điều Vô Nghĩa

Khi không đưa giáo pháp vào cuộc sống để có tâm trân trọng tri ân, những điều vô nghĩa sẽ xuất hiện, nhiều tới mức đôi khi bạn chẳng có thời gian để ngủ. Cuộc sống của bạn bị che phủ trong tấm màn được thêu dệt bởi những điều phù phiếm và bạn vẫy vùng trong tấm lưới này để tìm nhu cầu thỏa mãn. Điều đó không những khiến bạn thiếu thời gian để ăn, để ngủ mà còn làm mất hết cơ hội tìm nhận chân hạnh phúc.

Tôi thường nghe các đệ tử nói: “Con bận đến nỗi không có thời gian ăn sáng, ăn trưa và tu tập thực hành”. Phải, họ quá bận rộn nhưng đó không phải việc thực sự đáng để bận tâm. Cuộc sống của họ đơn giản đang bị lấp đầy bởi những điều vô nghĩa, nhiều tới mức họ không có thời gian để sống đúng nghĩa và trở thành kẻ nô lệ của chính mình.

Chân Lý Vũ Trụ

Đức Phật Thích Ca từng giảng rằng việc tích lũy hiểu biết tương đối về mọi điều trên thế giới này là không thể. Chỉ tính riêng ngôn ngữ, chúng ta đã không thể học hết các thứ tiếng. Điều chúng ta cần là hiểu biết tuyệt đối, trí tuệ giác ngộ về tự tính của vũ trụ, hiểu rằng vũ trụ vốn là tính không, huyễn ảo, vô thường giả tạm. Nếu hiểu được những đặc tính chung đó, bạn có thể dung hòa và sống hạnh phúc theo chân lý vũ trụ. Khi bắt đầu xoay tâm theo hướng này, bạn đã bước vào con đường của chư Bồ tát, các bậc có trí tuệ để sống thuận theo tự tính của vạn pháp. Đây là điều mà Đức Phật Thích Ca muốn chỉ ra trong lời khai thị được nhiều người biết đến: “Tất cả các điền chủ có thể chống lại tôi nhưng tôi sẽ không bao giờ đối nghịch với họ”. Qua đó, Ngài muốn dạy rằng thay vì đối nghịch, Ngài đã thuận theo quy luật tự nhiên.

Thấu Hiểu Tự Tính Của Vạn Pháp

Đức Quan Âm là hiện thân sự hiểu biết toàn diện về vũ trụ, về vạn pháp, về bạn, về tôi cùng mọi chúng sinh, giống như khi soi gương chúng ta thấy rõ ràng mọi thứ, không thể che giấu điều gì. Trong tấm gương Từ bi, chúng ta thấy chính mình và mọi loài hữu tình một cách đầy đủ, trong suốt, rõ ràng. Nhờ không còn gì bí ẩn che chướng, ta sẽ thực sự thấu hiểu mọi đối tượng và vạn pháp bên ngoài.

Khi bắt đầu hiểu nhau và dần hiểu thêm về thế giới bên ngoài, chúng ta sẽ nhận ra dường như sự vận hành của thế giới này có liên hệ với tính không, với những tính chất vô thường, huyễn như ảo ảnh. Lúc này, bạn sẽ bắt đầu ý thức được đặc tính chân thực của vạn pháp. Bạn biết rằng mình cần hiểu tự tính của vạn pháp để có thể sống tương thích nếu không muốn mãi chịu cảnh đau khổ vô minh.

Kho Tàng Vô Lượng Từ Bi

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta thấy mình không thể đối xử tốt với một ai đó, hoặc có những đối tượng mà ngay cả khi ta có thiện ý họ cũng không cảm nhận được tấm chân tình. Họ sẽ đón nhận “lòng tốt” của chúng ta với sự khó chịu và tâm nghi ngại. Điều này nằm ở phương cách chúng ta đối xử với người đó. Chẳng hạn bạn quan tâm đến sức khỏe của một người bạn nhưng thay vì hỏi thăm nhau lúc ban ngày, bạn lại dựng người đó dậy giữa đêm khuya chỉ để hỏi: “A-lô, cậu có khỏe không?”. Nếu không có chuyện gì quan trọng đáng để kể thì hiển nhiên người đấy sẽ nghĩ: “Thật vớ vẩn, gã này quả là phiền toái!”. Với chút tế nhị, lẽ ra bạn phải hiểu rằng mình không nên làm phiền người ta vào giờ này. Đúng là bạn có thiện ý nhưng người ấy lại không thấy như vậy. Bạn không nên làm phiền khi người khác ngon giấc chỉ để thăm hỏi vu vơ.

Đây là một ví dụ về lòng tốt nhưng thiếu hiểu biết khiến chúng ta cư xử kém. Để chung sống, chúng ta rất cần sự hiểu biết đồng cảm hay còn gọi là lòng từ bi đối với nhau. Trên nền tảng này chúng ta mới có thể phát triển tình yêu thương và các thiện hạnh khác. Tóm lại, nói “kho tàng vô lượng từ bi” cũng đồng nghĩa với giá trị của trí tuệ hiểu biết.

Tìm Kiếm Hạnh Phúc Nơi Đâu?

Nếu không biết tri ân, bạn sẽ làm gì? Chắc hẳn, bạn sẽ tốn nhiều công sức làm lụng vất vả để tích lũy của cải vật chất, sau đó lại lãng phí tiền bạc, thời gian vào những thú vui và sự tiện nghi thế gian. Đây là cách thức phổ biến chúng ta hay vận dụng để có được “hạnh phúc”. Tuy nhiên, bạn thường quên đi cách thức đơn giản hữu hiệu đó là thực hành lòng trân trọng tri ân.

Tôi muốn chỉ cho bạn biết đây chính là nơi hạnh phúc đang ẩn náu. Từ nguyên thủy, hạnh phúc vẫn ở nguyên đó nhưng phần lớn thời gian, nó ẩn náu vô cùng kín đáo. Thậm chí, chúng ta không cảm thấy sự hiện diện của hạnh phúc và suốt ngày than vãn: “Tôi không có cái này, tôi thiếu thứ kia. Thật tồi tệ! Anh ta đối xử với tôi thế này, cô ấy đã ruồng rẫy tôi thế nọ”. Bạn chỉ nhìn thấy mặt xấu của mọi chuyện, những điều tốt đẹp dường như không hề đến hoặc bạn thấy cuộc đời mình quá đen đủi hèn kém. Mặc dù luôn khát khao, mong cầu hạnh phúc nhưng chúng ta lại không nhận ra điều tốt đẹp, không biết trân trọng tri ân những gì mình đang có. Vì thế mà hạnh phúc mãi lẩn khuất không chịu tìm đến với chúng ta.

Thân Người Quý Giá

Cuộc sống cho ta bao điều tốt đẹp, do đó bạn cần tri ân từ những điều hiển nhiên nhất như việc mình có thể thức dậy mỗi ngày, có thể đi, đứng, nằm, ngồi, được lắng nghe mọi âm thanh, nhìn thấy mọi cảnh sắc, được gặp gỡ và giao lưu với mọi người. Từng phút giây trôi qua trong sự tỉnh thức và niềm tri ân cuộc đời sẽ trở thành những thời khắc nhiệm mầu đầy ý nghĩa.

Việc tri ân “thân người quý giá” cần được hiểu theo nghĩa rộng. Chúng ta không những cần tri ân phúc báo được tái sinh trong thân người mà còn cần tri ân mọi khía cạnh của cuộc sống. Chỉ vì không trân trọng từng phút giây cuộc đời mà chúng ta thường rơi vào cạm bẫy của lối sống mỏi mòn, buồn chán và bế tắc. Quán niệm về “thân người khó được” sẽ giúp bạn phát khởi động cơ thực hành Phật pháp, trải rộng tình yêu thương đến mọi chúng sinh.

Trên thực tế, hạnh phúc đích thực đến từ niềm trân trọng tri ân. “Ôi, thật may mắn mình vẫn còn ăn được! Mình vẫn đi lại được! Mình có thể đứng được!”. Với niềm tri ân hiện hữu trong tâm, bạn sẽ tự nhiên hạnh phúc. Biết trân trọng kiếp người, tri ân cuộc sống là pháp thực hành đơn giản nhất để có được hạnh phúc.

Chân Hạnh Phúc

Chúng ta cũng như mọi chúng sinh đều mong cầu hạnh phúc. Dù có làm gì, biện hộ mục đích gì thì thực ra chúng ta đều đang kiếm tìm hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc vẹn toàn, đích thực và rốt ráo chỉ có thể đạt được nhờ nương tựa vào giáo pháp tâm linh. Nếu không biết tới giáo pháp, không hạnh ngộ Thượng sư, chúng ta sẽ không có cơ hội tìm thấy con đường dẫn tới chân hạnh phúc.

Sự thực hành Phật Pháp trước hết dựa trên nền tảng những hướng đạo khai thị từ bậc Thầy nhưng để những giáo lý đó trở nên hữu dụng, chúng ta cần nghiêm túc thực hành những lời vàng này. Lời hướng đạo như ánh đèn rọi sáng con đường, việc của chúng ta bây giờ là phải cất bước.

Con Đường Phù Hợp

Trong Đại thừa cũng có những bậc Thầy không cần rời bỏ hoạt động thế tục. Chẳng hạn như Ngài Marpa, Thượng sư của Đức Milarepa, không hề xa lánh gia đình hay đời sống thế tục. Ngài luôn là chủ gia đình trong suốt cuộc đời mình, sống cùng vợ, các con trai, có ruộng vườn, đàn bò ngựa, gia súc… Tuy thế, Ngài vẫn thành tựu giác ngộ chỉ trong một đời.

Có những hành giả cần xa lánh thế tục để thành tựu giác ngộ, một số khác thì không. Chúng ta cần tự kiểm chứng bản thân để xác định xem mình thuộc nhóm nào. Điều này vô cùng quan trọng. Nếu không, bạn sẽ không biết mình cần thực hành theo con đường nào, thậm chí có thể thực hành những pháp không phù hợp và như vậy sẽ không đạt được thành tựu.

Sự Nhạy Cảm Thái Quá

Trong xã hội ngày nay, chúng ta thường gặp những người dễ xúc động, hào hứng và cũng dễ mất tinh thần. Sự nhạy cảm quá độ sẽ gây khó khăn cho họ trong việc đối mặt với những tình huống bất lợi bên ngoài. Họ có xu hướng dễ nổi cáu, phản ứng tức thì khi trái ý và sẵn sàng vung nắm đấm mà không cần nghĩ ngợi nhiều. Những xúc tình này chi phối mạnh mẽ tới mức khiến họ mất khả năng kiểm soát lý trí và sẽ động thủ tức thời. Như cây dễ bị bóc vỏ, họ có thể bị kích động mất kiểm soát mà không vì lý do gì to tát. Điều này rất nguy hiểm, trước hết với chính bản thân họ, sau nữa là những người xung quanh.

Truyền Thụ Cảm Hứng

Động cơ chủ yếu của việc trì tụng hồng danh chư Phật Bồ tát là để được truyền thụ cảm hứng. Nếu không tìm được cảm hứng, những lời cầu nguyện này sẽ không có ý nghĩa. Ví dụ như khi đói, chúng ta cảm thấy bị cuốn hút bởi thức ăn. Chúng ta ngửi thấy mùi đồ ăn hấp dẫn và tự nhủ: “Chà, ở đây chắc hẳn có nhiều món ngon. Thử đến ngó xem người ta đang nấu gì!” Mùi thơm khiến bạn ngất ngây và đó là cách thức ăn truyền cảm hứng. Chúng ta quyết định vào nhà hàng hoặc nơi nào đó và nói: “Xin chào! Ở đây có gì ăn được nào?” Cảm hứng tạo động lực để chúng ta hành động. Trái lại, nếu không bị đói thì dù món ngon tới đâu, chúng ta cũng chẳng quan tâm: “Mình không đói, mùi nấu nướng này không hấp dẫn chút nào. Tại sao phải đi tìm nhà hàng?”.

Do vậy, cảm hứng rất quan trọng, trong trường hợp cụ thể này, chúng ta đang được truyền cảm hứng từ việc trì hồng danh của các bậc Đại thành tựu giả.

Kiếm Tìm Hạnh Phúc

Chúng ta thường bận rộn lăng xăng kiếm tìm hạnh phúc mà không thấy nó ở ngay trước mặt. Hạnh phúc theo cảm nhận thế gian thông thường giống như giọt sương trên ngọn cỏ, long lanh trong chốc lát rồi tan biến, dù ta phải nhọc bao công sức thời gian để kiếm tìm. Không giống vậy, niềm an vui, tự tại của hạnh phúc lâu bền chắc chắn có thể đạt được. Niềm hạnh phúc này lặng lẽ, giản dị, không hào nhoáng bay bổng như thứ hạnh phúc nhất thời từ trải nghiệm của giác quan. Nhưng nó thực sự sâu sắc, an lạc và bền vững.

Tình Yêu Thương Của Người Mẹ

Thông thường chúng ta vẫn nhắc tới “chúng sinh mẹ đời trước”. Nghĩa là chúng ta không chỉ yêu thương người mẹ trong đời này. Bạn có rất nhiều tình cảm hướng tới mẹ, rất yêu thương mẹ. Khi nói đến tình yêu thương, chúng ta thường liên hệ với tình cảm người mẹ dành cho con. Điều này không chỉ đúng với con người mà ngay cả loài vật cũng tràn đầy tình mẫu tử ấm áp.

Khi xem các kênh truyền hình như National Geographic hay Animal Planet trình chiếu những bộ phim tuyệt vời mô tả đời sống các loài động vật, bạn sẽ thấy các con thú mẹ yêu thương con như thế nào. Từ loài khỉ, ngựa, lừa, chó, mèo… tất cả các con thú mẹ đều yêu thương con. Ngay cả những loài dữ tợn, hung hăng nhất như sư tử, hổ báo cũng luôn nhẹ nhàng trìu mến với đàn con.

Vì không có tay như chúng ta, nên khi muốn bế con, chúng ngoạm nhẹ gáy và tha con đi bằng hàm răng chắc khỏe. Thành phố Kathmandu nơi tôi ở có rất nhiều khỉ. Đôi khi, những chú khỉ con nghịch ngợm ngã từ trên cây xuống và chết. Không rõ do ngốc nghếch hay vì tràn ngập tình yêu thương, khỉ mẹ vội chạy ra nhặt xác con về và cứ ôm mãi trong vòng tay trong nhiều ngày đêm. Dù không là người, chỉ là những con khỉ, nhưng tình yêu của khỉ mẹ dành cho con cũng thật vĩ đại!

Vì thế chúng ta nghĩ rộng ra hết thảy “chúng sinh mẹ”, không phải chỉ bó hẹp bám chấp trong khái niệm liên quan tới người mẹ trong đời này. Cần mở rộng quan kiến và tầm mắt, bạn sẽ hiểu vì sao Đại thừa lại nói “tất cả chúng sinh đều giống như mẹ”.

Giấc Mộng Dài

Khi không còn ảo tưởng thì khổ đau cũng tan biến. Khi hiểu lầm chấm dứt thì chúng ta thức tỉnh.Vì thế chúng ta luôn cần một cái trống để đánh thức bởi chúng ta liên tục ngủ gật và vô minh. Thời gian tỉnh thức của chúng ta thật ngắn ngủi và rất khó duy trì, còn thời gian mà chúng ta tự làm mình bận rộn, căng thẳng, lo âu và ham muốn những thứ vô dụng chiếm gần như 90% cuộc đời.

Thậm chí nếu có người nào đó đánh trống gọi bạn thì bạn cũng chẳng để ý. Cuộc sống của chúng ta cứ trôi đi như vậy. Đời này sang đời khác, chúng ta tái sinh trở lại và vẫn bỏ lỡ các cơ hội, vẫn làm những việc đầy ảo tưởng như vậy. Vậy nên cuộc sống như những giấc mộng, đôi khi là ác mộng, dài vô tận, cho dù chúng ta có sống một trăm kiếp thì cũng sẽ không thức tỉnh.

Thượng Sư – Người Đánh Cá Tinh Thần

Tại sao hành giả phải cầu nguyện đến Thượng sư? Bởi vì lúc này, chúng ta chưa có sự kết nối rõ ràng và sâu sắc với Thượng sư. Bởi vậy, chúng ta cần kiến lập cầu nối giữa Thượng sư và bản thân chúng ta. Để kiến lập cầu nối này, cách tốt nhất là chúng ta chí thành nhất tâm cầu nguyện tiếng gọi Thầy từ phương xa, nhờ thế Thượng sư có thể cảm ứng, hộ trì cho bạn và bạn có thể đạt được mục đích cao nhất là hợp nhất được tâm bạn với tâm giác ngộ của Thượng sư.

Như thế, Thượng sư như người đánh cá tinh thần, sự gia trì của Ngài tựa như chiếc cần câu. Ngài luôn gắng sức cứu vớt chúng sinh, đặc biệt là những đệ tử ra khỏi biển khổ luân hồi. Đôi lúc Ngài thành công, đôi lúc có thể lại không bởi vì nghiệp lực của chúng sinh.

Chúng ta luôn nghĩ rằng, một Thượng sư luôn phải có quyền năng và sức mạnh siêu việt nhưng không hẳn tất cả các Thượng sư đều như vậy. Những vị thầy không đủ phẩm hạnh thì chẳng có gì cả, còn những bậc Thượng sư trong Truyền thừa của chúng ta như Đức Milarepa, Gampopa, Lingchen Repa, Jigme Lingpa…thực sự là “những người đánh cá tinh thần vĩ đại” bởi các Ngài có “móc câu” đặc biệt là thần lực gia trì.

Các Ngài luôn cố gắng cứu vớt chúng sinh bằng sự gia trì của mình, nhưng chúng ta quá vô minh không thể tiếp nhận ân phúc gia trì đó. Chúng ta cứ mải mê lặn ngụp trong biển khổ luân hồi. Chúng ta không thể nhận được bất kỳ một thông điệp nào từ sự gia trì của các Ngài chỉ vì chúng ta thiếu thiện duyên và còn nhiều ám chướng.

Sự Gia Trì Vĩ Đại

Nguyên nghĩa tâm chí thành có nghĩa là tự tin. Tôi hy vọng “tự tin” là một thuật ngữ đúng. Dù sao đi nữa tôi đang đàm luận về những trải nghiệm của mình. Đôi lúc trong tôi tràn đầy sự an lạc bởi vì tôi thấy rõ tâm chí thành là sự gia trì vĩ đại nhất mà chúng ta có thể đón nhận. Tôi đã cố gắng thực hành tâm chí thành trong mọi lúc, nhưng đôi khi tôi vẫn thấy là mình không thể cảm nhận được phẩm hạnh này. Tuy nhiên, tôi luôn nỗ lực phát triển tâm chí thành và đôi lúc tôi đã có thể chạm tới sự nhận thức căn bản chân chính – Yoga hay Naljor. Và khi cảm giác này đến thì tâm sẽ tràn đầy đại lạc mà có lẽ chính bạn cũng trải nghiệm được nó.

Nó không phải là sự hỷ lạc thân thể mà là một trạng thái đại lạc. Trạng thái đại lạc đấy chấn động thân tâm bạn theo một nghĩa vô cùng tích cực. Nó thực sự làm bạn cảm động một cách chân thành và tôi có thể nói rằng đó là sự gia trì vĩ đại nhất. Ngay khi bạn bắt đầu trải nghiệm được sự hỷ lạc thì niềm hỷ lạc này sẽ tồn tại mãi trong suốt cuộc đời bạn. Bạn sẽ có thể chiêu cảm và trì giữ được năng lực gia trì mặc dù thực sự không có gì để trì giữ cả vì năng lực gia trì đã luôn sẵn có trong tâm bạn từ vô thủy.

Tổng hợp từ facebook.com/drukpavietnam

Theo hoasenphat.com

Những câu hỏi nên học của Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14

Những câu hỏi nên học của Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14

“Khi bạn nghĩ rằng tất cả mọi thứ là lỗi của người khác, bạn sẽ phải chịu đựng rất nhiều. Khi bạn nhận ra rằng mọi thứ chỉ phát sinh từ chính mình, bạn sẽ học được hòa bình và niềm vui. ”

Những câu hỏi nên học của Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14

Những câu hỏi nên học của Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14

Nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vừa có lần sinh nhật thứ 82 của mình, chuyên mục Góc Suy Ngẫm của Hoa Sen Phật xin tổng hợp những câu nói hay và ý nghĩa của ông như một lời chúc gửi đến vị lãnh đạo bình dị được nhiều người yêu mến này.

Đức Đạt Lai Lạt Ma sinh ngày 6 tháng 7 năm 1935, tại làng Taktser ở đông bắc Tây Tạng. Tên thật là Tenzin Gyatso, ở tuổi lên hai, ông được công nhận là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, Thubten Gyatso. Ngài được chính thức công nhận là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 vào năm 1939.

Sau cuộc nổi dậy của Tây Tạng chống lại chính phủ Trung Quốc năm 1959 bị thất bại, ông trốn sang Ấn Độ và sống cho đến ngày nay. Trong nhiều lần, ông đã chiến đấu vì các quyền của người Tây Tạng và thậm chí đã kháng cáo lên Liên Hợp Quốc để hành động về tình hình bất ổn tại quê hương mình. Ông cũng đang tìm kiếm sự công nhận tự trị cho Tây Tạng.

Năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhận được giải Nobel Hoà bình cho chiến dịch tìm lại tự do và dân chủ ở Tây Tạng. Sau đây là tổng hợp những câu nói hay và ý nghĩa của ông, giúp mọi người hiểu hơn về triết lý sống bình dị của vị lãnh đạo tinh thần Phật giáo.

“Hãy tử tế bất cứ khi nào có thể, và nó luôn luôn có thể. ”

“Anh hùng đích thực là người chinh phục sự tức giận và hận thù của chính mình.”

“Một người bạn tốt chỉ ra những sai lầm và quở trách cái xấu của mình, thì người bạn đó phải được tôn trọng như thể anh ấy tiết lộ bí mật của một số kho báu ẩn giấu.”

“Khi chúng ta cảm nhận được tình yêu và lòng tốt đối với người khác, nó không chỉ làm cho người khác cảm thấy được yêu và quan tâm, mà còn giúp chúng ta phát triển hạnh phúc và hòa bình”.

“Từ bi không phải là kinh doanh tôn giáo, nó không phải là điều gì đó sang trọng, mà nó là điều cần thiết cho hòa bình của chúng ta và sự ổn định tinh thần, nó cần thiết cho sự sống còn của con người.”

“Mục đích chính của chúng ta trong cuộc đời này là giúp đỡ người khác, và nếu bạn không thể giúp họ, thì không nên làm tổn thương họ.”

“Đây là tín ngưỡng đơn giản của tôi. Không có đền thờ, không cần triết học phức tạp, não của chúng ta, trái tim của chúng ta là đền thờ của mình và triết lý là sự tử tế.”

“Sự thiếu minh bạch dẫn đến sự ngờ vực và những hành động tiêu cực.”

“Chúng ta có thể sống mà không cần tôn giáo và thiền định, nhưng chúng ta không thể tồn tại mà không có tình cảm của con người.”

“Đừng bao giờ nhầm lẫn sự im lặng của tôi vì sự thiếu hiểu biết, bình tĩnh của tôi để chấp nhận, lòng tốt của tôi cho sự yếu đuối. Từ bi và khoan dung không phải là dấu hiệu của sự yếu đuối, mà là dấu hiệu của sức mạnh. ”

“Đừng để hành vi của người khác tiêu diệt sự bình an trong tâm trí của bạn.”

“Nếu bạn nghĩ bạn quá nhỏ để tạo sự khác biệt, hãy thử ngủ với muỗi.”

“Khi bạn nghĩ rằng tất cả mọi thứ là lỗi của người khác, bạn sẽ phải chịu đựng rất nhiều. Khi bạn nhận ra rằng mọi thứ chỉ phát sinh từ chính mình, bạn sẽ học được hòa bình và niềm vui. ”

“Giận dữ không thể giúp bạn vượt qua được vấn đề. Nếu có ai đó tức giận với bạn, và bạn lại tỏ ra giận dữ, kết quả sẽ là một thảm hoạ. Mặt khác, nếu bạn kiểm soát sự tức giận của bạn và thể hiện ngược lại – tình yêu, lòng trắc ẩn, khoan dung và kiên nhẫn – bạn không chỉ yên tĩnh, mà sự tức giận của người khác cũng sẽ giảm đi. ”

“Thời điểm khó khăn là xây dựng quyết tâm và sức mạnh nội tâm. Thông qua đó, chúng ta cũng có thể đánh giá cao sự vô dụng của sự tức giận. Thay vì giận dữ, ta nên nuôi dưỡng một sự quan tâm sâu sắc và tôn trọng người gây rối bởi vì bằng cách tạo ra tình huống cố gắng như vậy, họ cung cấp cho chúng ta những cơ hội vô giá để thực hành khoan dung và kiên nhẫn. ”

“Ở đâu sự thiếu hiểu biết là chủ của chúng ta, thì ở đó không có khả năng hòa bình đích thực.”

“Bạn không được ghét những người làm những điều sai trái hoặc có hại, nhưng với lòng trắc ẩn, bạn phải làm những gì bạn có thể để ngăn chặn họ – vì họ đang làm hại bản thân, cũng như những người khác bị hành động của họ tác động. ”

“Nếu phân tích khoa học chứng minh một số tuyên bố trong Phật giáo là sai, thì chúng ta phải chấp nhận những phát hiện của khoa học và từ bỏ những tuyên bố đó.”

“Cho dù người giàu hay nghèo, có học thức hoặc không biết chữ, tôn giáo hay không tin, nam hay nữ, đen, trắng, hay nâu, tất cả chúng ta đều giống nhau. Về mặt thể chất, tình cảm và tinh thần, tất cả chúng ta đều bình đẳng. Tất cả chúng ta đều chia sẻ nhu cầu cơ bản về thực phẩm, nơi trú ẩn, an toàn và tình yêu. Chúng ta đều mong muốn hạnh phúc và tất cả chúng ta đều tránh xa đau khổ. Mỗi người trong chúng ta đều có hy vọng, lo lắng, sợ hãi, và ước mơ. Mỗi người trong chúng ta đều mong muốn điều tốt đẹp nhất cho gia đình và người thân. Tất cả chúng ta đều cảm thấy đau đớn khi chúng ta phải chịu đựng mất mát và niềm vui khi đạt được những gì chúng ta tìm kiếm. Về mức cơ bản này, tôn giáo, sắc tộc, văn hoá và ngôn ngữ không tạo ra sự khác biệt. ”

“Mỗi sinh vật đơn lẻ, ngay cả những kẻ thù địch của chúng ta, cũng sợ nỗi đau như ta, và tìm kiếm hạnh phúc theo cách chúng ta làm. Mọi người đều có cùng quyền như chúng ta để hạnh phúc và không đau khổ. Vì vậy, chúng ta hãy chăm sóc những người khác hết lòng, cả bạn bè và kẻ thù của chúng ta. Đây là cơ sở cho lòng từ bi thực sự. ”

“Tôi không biết vũ trụ có vô số thiên hà, sao và hành tinh có ý nghĩa sâu sắc hơn hay không, nhưng rõ ràng, chúng ta là những con người sống trên trái đất này phải đối mặt với nhiệm vụ tạo ra hạnh phúc, cuộc sống cho chính mình. Vì vậy, điều quan trọng là phải khám phá ra điều gì sẽ mang lại hạnh phúc lớn nhất “.

“Tức giận hay hận thù giống như cái móc của ngư dân. Điều quan trọng đối với chúng ta là đảm bảo rằng chúng ta không bị bắt bởi nó. ”

“Một trái tim rộng mở là một tâm trí cởi mở.”

“Người ta thường tạo ra một ấn tượng tốt bằng cách nói điều gì đó, nhưng đôi khi im lặng là cách tốt nhất để tạo ra một ấn tượng quan trọng.”

“Cho dù bạn tin vào Đức Chúa hay không thì không quan trọng lắm, cho dù bạn tin vào Đức Phật hay không thì không quan trọng. Như một Phật tử, cho dù bạn có tin vào hóa thân hay không thì cũng không quan trọng. Cái quan trọng là bạn phải có một cuộc sống tốt đẹp. ”

“Tôi tin rằng tất cả sự đau khổ là do sự thiếu hiểu biết. Con người gây ra đau đớn cho người khác trong sự theo đuổi ích kỷ của hạnh phúc hay sự hài lòng của họ. Tuy nhiên, hạnh phúc thực sự đến từ một cảm giác bình an nội tâm và sự mãn nguyện, và điều đó phải đạt được thông qua việc nuôi dưỡng lòng vị tha, tình yêu và xóa bỏ sự thiếu hiểu biết, ích kỷ và tham lam. ”

“Khi bạn không hài lòng, bạn luôn muốn nhiều hơn, nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Mong muốn của bạn không bao giờ có thể được thoả mãn. Nhưng khi bạn thực hành sự mãn nguyện, bạn có thể tự nói với mình, “Vâng – tôi đã có mọi thứ mà tôi thực sự cần. ”

“Chia sẻ kiến ​​thức của bạn. Đó là một cách để đạt được sự bất tử. ”

“Chúng ta chỉ là khách du lịch trên hành tinh này. Chúng ta ở đây trong 90 phút hoặc nhiều hơn. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta phải cố gắng làm điều gì đó tốt đẹp, hữu ích trong cuộc sống của chúng ta. Nếu bạn liên hệ với hạnh phúc của người khác, bạn sẽ tìm thấy mục đích thực sự, ý nghĩa thực sự của cuộc sống. ”

“Hạnh phúc không phải luôn luôn đến từ một sự theo đuổi. Đôi khi nó đến lúc chúng ta ít ngờ tới nhất. ”

“Tức giận là kẻ thù lớn nhất của hòa bình trong tâm hồn bạn”

“Nếu một vấn đề có thể được giải quyết thì nó sẽ được. Nếu nó không thể giải quyết thì không có gì đáng lo ngại về nó. ”

“Tôi luôn luôn nói với bạn bè phương Tây của tôi rằng, tốt nhất là giữ cho truyền thống của riêng bạn. Thay đổi tôn giáo không phải là dễ dàng và đôi khi gây nhầm lẫn. Bạn phải tôn trọng truyền thống của mình và tôn trọng tôn giáo của bạn. ”

“Nếu tôi chỉ tìm hạnh phúc cho bản thân mình, thì tôi sẽ có ít cơ hội hạnh phúc. Nếu tôi hạnh phúc khi những điều tốt đẹp xảy ra với người khác, tôi có hàng tỷ cơ hội để được hạnh phúc! ”

“Mặc dù không phải lúc nào bạn cũng có thể tránh được các tình huống khó khăn trong cuộc sống, tuy nhiên, bạn có thể sửa đổi mức độ mà bạn có thể bị ảnh hưởng bởi cách mà bạn chọn phản ứng lại tình hình đó.”

“Phước lành phải nảy sinh trong tâm trí của bạn. Nó không phải là cái gì đó đến từ bên ngoài. Khi những đặc tính tích cực của tâm trí bạn tăng lên và những tiêu cực giảm xuống, đó là những gì mà phước lành có ý nghĩa. Từ phước lành của Tây Tạng … có nghĩa là biến đổi thành tiềm năng tuyệt vời. Do đó, phước lành đề cập đến sự phát triển những phẩm chất đạo đức bạn chưa từng có và cải thiện những phẩm chất tốt mà bạn đã phát triển. Nó cũng có nghĩa là làm giảm các phiền não của tâm trí cản trở việc tạo ra những phẩm chất lành mạnh. Vì vậy, phước lành thực sự được nhận khi những đặc tính ưu việt của trí tuệ đạt được sức mạnh và những đặc tính khiếm khuyết của nó yếu đi hoặc xấu đi. ”

Tổng hợp từ dalailamaquotes.org

Theo hoasenphat.com

Cách để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Cách để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Những người có xu hướng ham muốn vật chất thường gặp nhiều phiền toái về mặt tinh thần, nhất là khi những thứ của họ bị lấy đi, những giá trị, những thành tựu mà họ đạt được bị phá huỷ.

Cách để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Cách để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Mỗi người đều có một cuộc sống cho riêng mình, nhưng tại sao lại có những người luôn cảm thấy hạnh phúc trong khi sự đau khổ luôn hiện hữu! Bởi vì họ tiếp cận cuộc sống theo một cách tích cực, trải nghiệm những điều thú vị, quan tâm đến những thứ làm cho cơ thể và tinh thần của họ luôn ở trạng thái tốt. Sau đây là tổng hợp những bí quyết giúp cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn. Cuộc sống là cuộc sống, đẹp hay xấu, hạnh phúc hay đau khổ, tất cả đều do bạn tạo nên.

Uống Nước Hợp Lý

Nước là một thứ không thể thiếu nếu chúng ta muốn tồn tại, hình thành thói quen uống nước đều đặn và phù hợp sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho cơ thể. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên chúng ta nên uống khoảng 2 lít nước mỗi ngày và trải đều trong suốt cả ngày. Nước giúp hỗ trợ hệ tiêu hoá, giảm cân, làm đẹp da, cải thiện chức năng não và nâng cao tinh thần. Đặc biệt, mỗi sáng nên uống một ngụm nước ấm sẽ giúp chúng ta sảng khoái hơn để bắt đầu một ngày mới.

Tiếp Xúc Ánh Mặt Trời

Chúng ta thường nghe nói về tác hại nếu tiếp xúc thường xuyên với ánh nắng, nhưng lại ít nhận ra những lợi ích tuyệt vời mà nó mang lại. Ánh nắng mặt trời giúp cho xương chắc khoẻ, cải thiện não bộ, giảm phiền muộn trầm cảm và ngăn ngừa ung thư. Hãy dành chút thời gian mỗi sáng, đi bộ dưới ánh mặt trời và tận hưởng không khí trong lành sẽ rất tuyệt vời đấy.

Ngủ Đủ Giấc

Giấc ngủ rất quan trọng, nó giúp chúng ta tái tạo năng lượng, đẩy nhanh việc trao đổi chất. Một giấc ngủ ngon sẽ giúp bạn thức dậy với một bộ não minh mẫn hơn, sẵn sàng cho những thách thức phía trước. Giấc ngủ chiếm 1/3 cuộc đời, nghe có vẻ lãng phí, nhưng đó là điều cần thiết nếu như bạn muốn có một cơ thể khoẻ mạnh, một tinh thần sảng khoái để tiếp tục thực hiện những ước mơ của mình.

Mỗi Ngày Nên Ghi Nhớ Một Điều Gì Đó

Hãy ghi nhớ một điều gì đó mỗi ngày, một câu chuyện vui, một bài thơ hay một triết lý sống nào đó mà bạn thấy thú vị. Điều này sẽ kích thích bộ não của bạn hoạt động, phát triển sự sáng tạo. Ngoài ra, kho thư viện của riêng bạn sẽ có thêm một thông tin thú vị, một câu chuyện ý nghĩa mà bạn có thể sử dụng chúng khi có dịp.

Giảm Bớt Sự Gắn Bó Của Mình Với Vật Chất

Những người có xu hướng ham muốn vật chất thường gặp nhiều phiền toái về mặt tinh thần, nhất là khi những thứ của họ bị lấy đi, những giá trị, những thành tựu mà họ đạt được bị phá huỷ. Bởi vì cuộc đời là vô thường, mọi thứ thay đổi liên tục đến rồi đi, nếu hiểu được như thế thì chúng ta sẽ thoải mái hơn và không còn tạo phiền não cho bản thân nữa. Hôm nay chiếc xe bao nhiêu năm dành dụm mua được bị lấy mất, buồn một chút thôi! Mai là một ngày mới, và chúng ta có cơ hội để làm lại mọi thứ.

Trải Nghiệm Những Thứ Mới Mẻ

Đa số chúng ta thường mắc kẹt trong một vòng lặp quen thuộc. Đi làm trên một con đường, làm cùng một công việc, đi chơi với bạn bè và ăn ở cùng một nơi ngày nay qua ngày khác. Mặc dù điều đó cho bạn cảm giác an toàn, nhưng nó không phải là lối sống tốt nhất cho não của bạn.

Những khớp thần kinh đã được xây dựng đủ, vì vậy hãy thử cái gì mà bạn không biết làm thế nào, để tạo ra các khớp thần kinh mới bằng cách buộc tâm trí của bạn phải làm việc theo những cách mà nó ít hoặc chưa làm trước đây. Vấn đề là bạn cần phải học những điều mới để giữ cho não của bạn hoạt động và phát triển.

Vào những ngày nghỉ, bạn nên một dành chút thời gian để trải nghiệm những điều mới, trở thành một nhà thám hiểm trong khu vườn sau nhà, quan sát những điều nhỏ nhặt nhất, hít thở không khí trong lành. Hãy ra khỏi vùng an toàn của mình, cùng bạn bè tìm một quán cafe hay quán ăn nào đó mà mình chưa từng đến, để trải nghiệm một môi trường mới, một cảm giác mới. Thế giới muôn màu hãy tận dụng nó.

Đọc Sách

Kiến thức là sức mạnh, hãy tìm cho mình một cuốn sách nào đó phù hợp với sở thích của mình. Đọc nó khi có thời gian rãnh, nó sẽ giúp bạn khá nhiều trong cuộc sống đấy. Trong rất nhiều bài phỏng vấn về những người nổi tiếng thế giới, họ thường nói “Tôi luôn có một cuốn sách ngay đầu giường”.

Tập Trung Vào Hiện Tại

Quá khứ là không thể thay đổi, nên nó không phải là cái mà chúng ta đặt quá nhiều sự quan tâm vào nó. Nhiều người hay bám víu vào quá khứ huy hoàng của mình, rồi mắc kẹt trong những hoài niệm đó, “ước gì” là từ mà họ thường nói…! Tương lai là kết quả của hành động hiện tại. Vì vậy, hãy học hỏi từ quá khứ để làm tốt hơn trong hiện tại và bạn sẽ thành công trong tương lai.

Cười Nhiều Hơn

Bất cứ khi nào bạn nở một nụ cười trên khuôn mặt, não của bạn sẽ sản xuất ra Serotonin, hoóc môn hạnh phúc. Mỉm cười là cách tự nhiên để buộc mình phải hạnh phúc. Nhiều người thậm chí mỉm cười trong năm phút vào mỗi buổi sáng để tạo một trạng thái tuyệt vời trong ngày. Nó là một phương pháp rất hay để mang lại năng lượng tích cực, tuy nhiên, càng lớn chúng ta càng quên dần nó, ngay khi chúng ta cần hạnh phúc hơn bao giờ hết. Chỉ cần nhớ rằng, trong hạnh phúc có nụ cười và nụ cười cũng dẫn đến hạnh phúc.

Suy Nghĩ Tích Cực

Khi một tư tưởng tiêu cực xuất hiện trong đầu, hãy ngừng nó ngay lập tức bằng bất kỳ cách nào cần thiết. Tát vào mặt mình vài cái, hét lên thật to hay đơn giản là đi bộ quanh nhà. Là một người Phật tử, mỗi khi xuất hiện suy nghĩ tiêu cực trong đầu, tôi thường đứng trước bàn thờ Phật và nhìn lên, cứ thế trong yên lặng, những suy nghĩ xấu đó tan biến lúc nào tôi cũng không nhận ra. Những suy nghĩ tiêu cực sẽ dẫn đến hành động tiêu cực, mà hành động tiêu cực thường dẫn đến một kết quả không tốt đẹp.

Dành Một Khoảng Thời Gian Cụ Thể Để Giải Quyết Những Lo Lắng

Hãy dành một khoảng thời gian cố định để giải quyết những khó khăn, lo lắng trong công việc và cuộc sống. Sau đó, hãy quên nó đi, tập trung cho hiện tại và tương lai. Cách này rất hiệu quả để tránh cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng đến khoảng thời gian còn lại trong ngày.

Thư Giãn Sau Ngày Làm Việc Mệt Mõi

Vâng, công việc rất quan trọng, nhưng bạn cần dành chút thời gian để thư giãn mỗi ngày. Nó giúp cơ thể chúng ta có thời gian để phục hồi, tinh thần không còn đặt trong trạng thái căng thẳng để xử lý hàng tá công việc nữa, mà thay vào đó là trạng thái yên bình, thoải mái để tái tạo năng lượng.

Nếu chúng ta chỉ biết làm việc mà không thư giãn thì hiệu quả công việc sẽ giảm dần, giống như cây đèn chuẩn bị hết dầu. Hãy tiếp thêm năng lượng cho mình bằng cách thư giãn trên ghế sofa với một cuốn sách hay, nghe một bài nhạc thư giãn tĩnh tâm hay đơn giản là vui đùa cùng những đứa con thân yêu của mình.

Đi Du Lịch

Du lịch là một trong những hoạt động thú vị nhất mà bạn có thể làm. Quan sát một nền văn hoá khác sẽ mở rộng tâm trí của bạn, cảm nhận nhiều điều mới mẻ, những trải nghiệm thú vị cùng với những người bạn mới, từ đó bạn sẽ thấy trân quý cuộc sống này hơn. Rất nhiều người chọn du lịch sau khi trải qua một cú sốc trong cuộc đời, sau đó họ trở lại với trạng thái vui vẻ hơn để bắt đầu những ngày tốt đẹp ở phía trước.

Tìm Ra Mục Tiêu Phù Hợp

Lạc đường không đáng sợ, điều đáng sợ là không biết phải đi đâu. Mỗi người điều có một ước mơ cho riêng mình, hãy xác định xem nó có phù hợp với sở trường của mình không và quyết tâm thực hiện nó. Sở trường quan trọng hơn sở thích, nhiều người thích làm ca sĩ, diễn viên, bơi lợi…nhưng khả năng không cho phép và thường rất khó khăn để hoàn thành ước mơ đó. Vì vậy, hãy nhìn nhận lại bản thân mình và tìm ra mục tiêu phù hợp nhất để phấn đấu.

Học Cách Không Bị Ảnh Hưởng Bởi Những Lời Nói Xấu Của Người Khác

Cho dù bạn có làm gì đi nữa thì cũng có người ghét bạn, chúng ta không thể làm hài lòng tất cả mọi người, vì thế đừng bận tâm đến những lời nói xấu từ họ. Đó là một phần của cuộc sống, đừng vì những lời nói đó mà tạo phiền não cho mình, hoặc phát sinh những suy nghĩ và hành động tiêu cực để chống lại họ. Mục đích của họ là mong muốn nhìn thấy bạn tức giận, nhưng nếu họ không thấy điều đó ở bạn thì coi như họ đã thất bại. Tuy nhiên, hãy cảm ơn những người đưa ra lời khuyên chân thành, hãy học cách lắng nghe những lời khuyên đó và sửa đổi bản thân mình.

Học Cách Kiểm Soát Cảm Xúc

Người duy nhất có thể làm cho bạn không hạnh phúc là chính bạn! Bạn là người quyết định bị ảnh hưởng bởi những lời nói và hành động của người khác. Nhận ra điều này để trong lần tiếp theo, bạn gặp một cảm xúc tiêu cực, bạn có thể tìm thấy sức mạnh trong mình để vượt qua nó.

Giúp Đỡ Người Khác

Giúp đỡ người khác sẽ tạo hiệu ứng Domino. Nếu bạn giúp một ai đó, họ sẽ cảm thấy có bổn phận để giúp đỡ những người khác. Điều này có thể thay đổi bạn theo những cách mà bạn chưa từng nghĩ tới, mối quan hệ của bạn với người đó sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đó là điều hoàn hảo nhất mà bạn có thể làm trên hành tinh này. Theo Luật nhân quả của Phật giáo, giúp đỡ người khác là một cách để tạo nghiệp lành, đâu đó trên dòng đời của mình, bạn sẽ nhận được quả tốt mà bạn đã gieo.

Phát Triển Khả Năng Tha Thứ

Tha thứ tưởng chừng như đơn giản nhưng đa số chúng ta đều thất bại. Hận thù chỉ mang lại đau khổ, chỉ có tình yêu thương mới tạo nên hạnh phúc bền vững. Chúng ta ai cũng có sai lầm, và thường đưa ra những lời biện minh để bào chữa cho những sai lầm đó. Nhưng với sai lầm của người khác, chúng ta thường có xu hướng khoét sâu vào và nâng cao tầm quan trọng đối với sai lầm của họ. Tha thứ là một khả năng cần được phát triển, nó mang lại cảm giác bình an trong tâm trí và chữa lành mối quan hệ.

Thiền Định

Trong thế giới hiện đại này, nơi mọi người đều kết nối với mọi thứ thông qua điện thoại di động, truyền hình và internet, hầu hết chúng ta hiếm khi thưởng thức được vẻ đẹp của sự im lặng. Trạng thái yên tĩnh trong tâm trí của bạn là một nghệ thuật và đó là kỹ năng mà mọi người nên phát triển. Thiền định là phương pháp tốt nhất để trải nghiệm cảm giác này, đơn giản chỉ cần ngồi một nơi nào đó, tốt nhất trong sân vườn sau nhà, tập trung vào hơi thở và để dòng suy nghĩ trong bạn chảy tự do.

Tình Yêu Là Tất Cả

Nếu bạn thật sự muốn trở thành một bậc thầy của cuộc sống, hãy thả tình yêu vào trong mỗi suy nghĩ và hành động của bạn. Yêu công việc, bạn bè, gia đình và cả kẻ thù của bạn. Đây là điều khó thực hiện nhất trong danh sách này, nhưng nếu bạn thực hiện được, bạn sẽ được xem như một người đặc biệt (theo nghĩa tích cực) trong số những người cho phép sự hận thù, ghen tị, và tất cả các cảm xúc tiêu cực vào cuộc sống của họ. Cuộc sống này đầy rẫy sự bất công, con người tìm cách triệt hạ nhau, lòng thù hận luôn hiện hữu, bạn sẽ đứng chung nhóm với họ hay mạnh mẽ tách ra và tiến về phía trước?

Theo hoasenphat.com

Tìm hiểu lịch sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Tìm hiểu lịch sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Sau khi Thái Tử từ bỏ con đường khổ hạnh, ông đã đi thiền định một mình trong rừng, để vượt qua sợ hãi. Phía sau tất cả nỗi sợ hãi, ông đã hiểu rõ bản chất thật của tâm trí và vượt qua mọi khoái cảm và dục vọng.

Tìm hiểu lịch sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Tìm hiểu lịch sử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha) là người sáng lập ra Phật Giáo, một nhân vật có thật trong lịch sử. Xuất thân là Thái tử Tất Đạt Đa con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maha, dòng họ Cồ Đàm, vương tộc Thích Ca. Ngài được cho là sinh vào ngày rằm tháng tư âm lịch năm 624 TCN (theo lý giải của Phật giáo Nam Tông), mùng 8/4 âm lịch (theo lý giải của Phật giáo Bắc Tông) tại vườn Lâm Tỳ Ni, nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ và Devadaha ở Nepal.

Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?

Vì Hoàng hậu Maha Maya qua đời bảy ngày sau khi Thái tử chào đời, nên Thái tử được người dì Maha Pajapati Gotami (Maha Ba xà ba đề), trực tiếp nuôi nấng, dạy dỗ, còn người con trai của Bà dì là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi dưỡng.

Tên riêng của vị Phật tương lai là Si Đác Ta (Tất Đạt Đa), tên giòng họ Ngài là Gotama (Cồ Đàm). Vì giòng họ nầy thuộc bộ lạc Sakya (Thích Ca), cho nên sau nầy có danh hiệu Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni). Muni là bậc Thánh, Sakya Muni là bậc thánh thuộc bộ lạc Thích Ca.

Là một thanh niên trong hoàng tộc, Tất Đạt Đa đã sống một cuộc sống vui tươi. Ông kết hôn với một phụ nữ tên là Yashodhara, và có một người con trai tên là Rahula. Vào tuổi 29, Ông từ bỏ cuộc sống gia đình và di sản hoàng gia để trở thành một người tìm kiếm sự tĩnh tâm trong tinh thần.

Sự Giác Ngộ Của Thái Tử Tất Đạt Đa

Thái Tử muốn vượt qua đau khổ, qua sự hiểu biết về bản chất của sinh, lão, bệnh, tử…nỗi khổ đau trên nhân gian. Nên Ông từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ và con, cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc của một hoàng tử. Không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là sự hy sinh từ bỏ của một vị hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người.

Thời bấy giờ, ở Ấn Độ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa. Ngài nghiệm thấy, càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. Ngài thấy rõ, khổ hạnh, ép xác không phải là con đường thoát khổ và cứu khổ.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Tu Khổ Hạnh

Sau khi Thái Tử từ bỏ con đường khổ hạnh, ông đã đi thiền định một mình trong rừng, để vượt qua sợ hãi. Phía sau tất cả nỗi sợ hãi, ông đã hiểu rõ bản chất thật của tâm trí và vượt qua mọi khoái cảm và dục vọng. Do đó, trong cuốn “Vũ khí Sharp”, thiền sư Ấn Độ Dharmarakshita đã sử dụng hình ảnh của những con công đang lang thang trong rừng cây độc để thể hiện sự biến đổi những cảm xúc độc hại của dục vọng, tức giận và ngây thơ để giúp họ vượt qua mọi cám dỗ.

Sau khi thiền định, Thái Tử Tất Đạt Đa đã đạt được giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35 và trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni. Các tài liệu sau này cung cấp chi tiết về việc ông đạt được điều này dưới gốc cây Bồ đề tại Bodh Gaya, sau khi thành công trong việc chống lại các cuộc tấn công từ Mara ghen tuông, người đã cố gắng ngăn cản sự giác ngộ của Phật Thích Ca Mâu Ni bằng cách thêm những hình ảnh đáng sợ và quyến rũ để làm phiền việc thiền định của Đức Phật.

Trong những lời tường thuật sớm nhất, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt được giác ngộ trọn vẹn bằng cách đạt được ba loại tri thức: kiến ​​thức toàn vẹn về những kiếp quá khứ của mình, về nghiệp và tái sinh của tất cả những người khác, và Tứ Diệu Ðế. Các tường thuật sau này giải thích rằng, với sự giác ngộ, ông đã đạt được sự toàn tri.

Phật Thích Ca Mâu Ni Ngồi Thiền Dưới Gốc Cây Bồ Đề

Sau khi giác ngộ, Đức Phật đi bộ khắp miền bắc Ấn Độ để truyền dạy Bát Chánh Đạo, con đường để thoát khỏi đau khổ. Đức Phật đã dạy liên tục trong bốn mươi lăm năm. Mọi người thuộc mọi chuyên ngành, từ vua cho đến trộm cướp, đều bị thu hút bởi ông. Đức Phật trả lời mọi câu hỏi của họ, luôn luôn hướng về cái mà cuối cùng là sự thật.

Trong suốt cuộc đời của mình, Đức Phật khuyến khích sinh viên của mình đặt câu hỏi về giáo lý của mình và xác nhận họ qua kinh nghiệm của họ. Thái độ phi giáo điều này vẫn còn đặc trưng cho Phật giáo ngày nay.

Thần Chú Của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

TAYATA: OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOHA.

Câu chú này có khả năng tiêu diệt tội chướng, tịnh hóa tất cả ô uế và hiện thực hóa bốn thân Phật.

Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng.

Theo hoasenphat.com

Tìm hiểu thiền trong Phật giáo

Tìm hiểu thiền trong Phật giáo

Thiền là một phương pháp để biến đổi tâm trí. Thiền quán trong Phật giáo là những kỹ thuật khuyến khích và phát triển sự tập trung, sự rõ ràng, tình cảm, và sự bình tĩnh để nhìn thấy bản chất đích thực của sự vật.

Tìm hiểu thiền trong Phật giáo

Tìm hiểu thiền trong Phật giáo

Thiền là một trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì ngăn trở, hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ về ý thức vũ trụ. Trong kinh điển Phật giáo Nguyên Thuỷ, thiền, tiếng Pali là bhavana, dùng để chỉ những pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm. Có hai pháp thực hành thiền là Thiền định (samatha bhavana) và Thiền quán (vipassana bhavana).

Bạn đã nghe nhiều về Thiền, thậm chí có thể là những khoảnh khắc của Thiền, những trường hợp về cái nhìn sâu sắc và một cảm giác liên kết và hiểu biết dường như đi ra khỏi hư không. Nhưng ý nghĩa thật sự của Thiền là gì?

Thiền là một thực hành bắt nguồn từ Phật giáo Đại Thừa xuất hiện ở Trung Quốc cách đây 15 thế kỷ. Ở Trung Quốc, nó được gọi là Ch’an, là sự biểu hiện của Phạn ngữ Dhyana, nói đến một tâm trí hấp thu trong thiền định. Ở Nhật Bản, “Thiền” được gọi là Zen thông qua cách phát âm từ chữ “Ch’an” của Trung Quốc, trong bất kỳ ngôn ngữ nào, nó điều có ý nghĩa là Thiền Phật giáo.

Theo một số học giả, Thiền ban đầu giống như một hình thức pha trộn của Đạo giáo và Phật giáo Đại thừa truyền thống, trong đó các thực hành thiền định phức tạp của Đại Thừa đã gặp phải sự đơn giản dường như vô nghĩa của Đạo giáo Trung Quốc để tạo ra một nhánh mới của Phật giáo là Thiền Tông.

Thiền Là Gì?

Bởi vì Thiền rất khó giải thích, nên một số trích dẫn sau đây có thể giúp bạn hiểu được đôi chút về phương pháp thực hành này:

Mục đích của Thiền trong Phật giáo là đạt được giác ngộ bằng cách trực tiếp nhìn thấy bản chất thật của sự tồn tại mà không có sự can thiệp của “cái tôi”.
Thiền quan tâm đến bản chất thật hơn là những gì chúng ta suy nghĩ hay cảm nhận.
Thiền có liên quan đến những sự vật như chúng đang có, mà không cố giải nghĩa chúng.
Thiền chỉ ra điều gì đó trước khi suy nghĩ, trước tất cả những ý tưởng của bạn.
Chìa khóa cho Thiền chỉ đơn giản là tự hiểu biết.
Con người có khả năng trở thành một vị Phật. Phật tính chỉ là một cái tên cho bản chất thật của con người.
Thiền là chữ viết tắt của Thiền tông (Zen Buddhism) trong Phật giáo. Nó đôi khi được gọi là tôn giáo và đôi khi được gọi là triết học.
Thiền không phải là triết học hay tôn giáo.
Thiền cố gắng giải phóng tâm trí khỏi sự nô lệ của lời nói và sự bóp nghẹt của logic.
Thiền là tĩnh tâm.
Các tôn giáo cảm thấy bắt buộc phải trả lời mọi thứ như một dấu hiệu cho “sự khôn ngoan tuyệt vời” của họ, nhưng đối với Thiền, không đưa ra bất cứ câu trả lời nào mới là sự khôn ngoan tuyệt vời.

Thiền không tìm cách trả lời những câu hỏi chủ quan bởi vì đây không phải là vấn đề quan trọng. Điều thực sự quan trọng là giây phút hiện tại, ở đây và ngay bây giờ, chứ không phải là quá khứ, tương lai hay Đấng tạo hóa.

Hơn nữa, Thiền thực sự tin rằng, không ai biết câu trả lời cho những câu hỏi đó và rằng họ không thể trả lời được vì khả năng hạn chế của con người. Cuộc sống là một giấc mơ, một ảo ảnh vĩ đại mà chúng ta nhận thức được thông qua bộ lọc tham chiếu, kinh nghiệm và bản ngã của chúng ta.

Thiền không tìm cách trả lời những câu hỏi chủ quan liên quan đến vũ trụ, siêu nhiên hay Đấng tạo hóa và một số học thuyết của tôn giáo khác.

Điều này có nghĩa là Thiền đóng cánh cửa cho hiện tượng siêu hình? Không phải! Thiền không thể khẳng định hay phủ nhận chúng, vì vậy, nên giữ im lặng và sống một cách đơn giản trong thời điểm này.

Nguồn Gốc

Thiền Phật giáo được biết đến ở Trung Quốc bởi nhà sư Ấn Độ Bodhidharma vào thế kỷ thứ 5 SCN, và nó được gọi là Ch’an.

Các bài giảng của Bodhidharma đã khai thác một số tiến triển đã có trong tiến trình, chẳng hạn như sự hợp lưu giữa triết học Đạo Lão với triết học Phật giáo. Các triết lý ban đầu Đại Thừa của Madhyamika (khoảng thế kỷ 2 SCN) và Yogacara (thế kỷ thứ 3 SCN) cũng đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của Thiền.

Dưới sự hướng dẫn của Tổ phụ thứ sáu, Huineng (638-713), Thiền đã bỏ hầu hết những thứ của Ấn Độ, để trở thành của Trung Quốc và giống như Thiền mà chúng ta đang nghĩ đến. Thời kỳ vàng son của Thiền phát triển mạnh vào thời nhà Đường, 618-907 SCN, và các bậc thầy của thời kỳ này vẫn “nói chuyện” với chúng ta thông qua các công án và những câu chuyện ý nghĩa.

Thiền đã được truyền sang Việt Nam và Hàn Quốc rất sớm, có thể là ngay từ thế kỷ thứ 7 và Nhật Bản vào thế kỷ 12. Nó được phổ biến ở phương Tây bởi học giả người Nhật Daisetz Teitaro Suzuki (1870 – 1966), mặc dù nó đã được tìm thấy ở phương Tây trước đó. Eihei Dogen (1200-1253), không phải là vị Thiền sư đầu tiên ở Nhật Bản, nhưng ông là người đầu tiên thiết lập một dòng truyền thừa tồn tại cho đến ngày nay.

Ý Nghĩa Của Thiền Trong Phật Giáo

Có rất nhiều điều trong cuộc sống ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có thể chịu trách nhiệm về trạng thái tâm trí của chính mình và thay đổi cho chúng tốt hơn. Theo Phật giáo, đây là điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể làm, và Phật giáo dạy rằng đó là thuốc giải độc duy nhất cho nỗi đau, những lo lắng, sợ hãi, hận thù và những rối rắm xung quanh.

Thiền là một phương pháp để biến đổi tâm trí. Thiền quán trong Phật giáo là những kỹ thuật khuyến khích và phát triển sự tập trung, sự rõ ràng, tình cảm, và sự bình tĩnh để nhìn thấy bản chất đích thực của sự vật. Bằng cách tham gia vào một khoá thực hành thiền cụ thể, bạn sẽ luyện tập thói quen trong tâm trí của bạn, biến chúng thành những hành động tích cực trong cuộc sống. Với công việc thường xuyên và sự kiên nhẫn, những trạng thái tâm dưỡng, tập trung của tâm trí có thể đi sâu vào các trạng thái tinh thần tích cực và tràn đầy sức sống. Những trải nghiệm như vậy có thể giúp chuyển đổi hoặc dẫn đến một sự hiểu biết mới về cuộc sống.

Thiền định nhằm mục đích đưa tâm trí ra khỏi vòng luẩn quẩn tinh thần, từ đó có thể nhận thức rõ ràng và nhận ra Phật tánh của mình. Những người hành thiền nhằm mục đích đạt được giác ngộ thông qua cách sống của họ, bởi vì các hành động tinh thần tiếp cận chân lý mà không có tư tưởng triết học hay nỗ lực trí tuệ. Một số trường phái Thiền làm việc để đạt được khoảnh khắc giác ngộ bất ngờ, trong khi những trường phái khác thì thích một quá trình từ từ.

Thiền không phải là một lý thuyết, một ý tưởng hay một phần của kiến ​​thức. Nó không phải là niềm tin, tín điều hay tôn giáo, mà đó là một kinh nghiệm thực tế. Nó không quan tâm đến các lý thuyết hay các nghi thức siêu hình mà chỉ tập trung hoàn toàn vào việc thực hành chánh niệm thông qua các tư thế (Zazen).

Trong sự im lặng của không gian xung quanh, lặng lẽ ngồi xuống, ngừng chuyển động, và buông bỏ những suy nghĩ của bạn. Giữ thẳng lưng và tập trung vào tư thế, hơi thở của bạn. Hãy để cái tôi và tâm trí của bạn tan chảy, hợp nhất với vũ trụ.

Thiền trong Phật giáo là một thực hành cần phải có kinh nghiệm chứ không phải là một khái niệm mà bạn có thể trí tuệ hóa hay hiểu được thông qua một bài viết như thế này.

Những Kỹ Thuật Thiền Định Cơ Bản

Trước khi bắt đầu thiền, bạn cần phải tìm một nơi yên tĩnh và yên bình nơi bạn sẽ không bị quấy rầy. Phòng mà bạn sẽ tập luyện không được quá tối hoặc quá sáng, quá nóng hoặc quá lạnh.

Tư Thế Chuẩn Khi Ngồi Thiền

Có nhiều cách khác nhau mà bạn có thể thực hành Thiền. Theo truyền thống, chỉ có tư thế hoa sen hoặc tư thế bán hoa sen cũng được sử dụng. Nếu bạn thiếu tính linh hoạt, để luyện tập thiền bạn nên quỳ hoặc ngồi trên ghế.

Tư Thế Hoa Sen Trong Thiền (Ảnh zen-buddhism.net)

Đầu tiên bạn nên ngồi trên một cái đệm dày và tròn, trong tư thế hoa sen hoặc tư thế bán hoa sen. Mục đích của đệm này là nâng hông, do đó buộc đầu gối chắc phải bắt rễ xuống sàn nhà. Bằng cách này, tư thế thiền của bạn sẽ được ổn định hơn nhiều và cũng thoải mái. Ngoài ra, bạn cần phải có một một tấm thảm chữ nhật được đặt dưới vòng đùi lót đầu gối và chân.

Đối với tư thế bán hoa sen, đặt hai chân lên trên đùi đối diện, và đặt chân kia lên sàn bên dưới đùi khác. Đối với tư thế hoa sen, bạn đặt từng chân lên đùi đối diện với đường ngón chân khớp với đường ngoài của đùi. Điều quan trọng là “đẩy” bầu trời lên trên đầu và đẩy sàn nhà xuống với đầu gối của bạn.

Tư Thế Bán Hoa Sen Trong Thiền (Ảnh zen-buddhism.net)

Nếu những tư thế này quá khó chịu, bạn có thể sử dụng ghế ngồi thiền. Bạn cũng có thể ngồi trên ghế mà không sử dụng ghế dựa.

Điểm quan trọng của tư thế này là giữ cho cơ thể thẳng đứng và cân bằng, cố gắng không nghiêng theo bất kỳ hướng nào, không phải hay trái, không tiến về phía sau và ngược lại.

Đầu Và Cổ Trong Khi Thiền

Dù bạn chọn tư thế nào thì hãy đảm bảo rằng lưng và cổ của bạn càng thẳng càng tốt. Kéo cằm của bạn trong một chút để dựng lên cổ và cố gắng “đẩy bầu trời” lên trên đỉnh đầu của bạn. Đừng quá căng thẳng hoặc quá thoải mái trong khi bạn làm điều này; Cố gắng tìm sự cân bằng trong tư thế của bạn. Giữ miệng của bạn khép lại trong suốt quá trình thiền định. Răng của bạn nên chạm vào nhau, và lưỡi của bạn phải dựa trên mái vòm miệng, đằng sau răng của bạn.

Đôi Mắt Trong Khi Thiền

Theo truyền thống trong Phật giáo, đôi mắt được giữ mở trong suốt quá trình thiền định. Điều này ngăn người thiền mơ mộng hoặc buồn ngủ. Nếu không tập trung vào không có gì đặc biệt, hướng tầm nhìn của bạn khoảng một mét phía trước của bạn trên sàn nhà. Đôi mắt của bạn sẽ tự nhiên nghỉ ngơi ở vị trí nửa mở và đóng. Người thiền nên ngồi đối diện với một bức tường để tránh bị xao lãng bởi sự di chuyển bên ngoài.

Vị Trí Bàn Tay Trong Thiền Định

Vị trí của bàn tay chạm vào nhau, tư thế tay này được gọi là Mudra vũ trụ hay Hokkaijoin bằng tiếng Nhật. Đầu tiên, đặt tay trái của bạn vào bên phải, và lòng bàn tay quay về phía bầu trời. Bây giờ, tạo một hình bầu dục bằng cách chạm vào đầu ngón tay cái để ngón tay cái chạm vào nhau và tạo thành một đường thẳng. Các đầu ngón tay cái của bạn nên nhẹ chạm vào nhau. Cả hai cổ tay bạn nên nghỉ ngơi trên đùi của bạn. Cạnh của bàn tay bạn nên nghỉ ngơi trên bụng bạn. Giữ vai của bạn thư giãn.

Vị Trí Bàn Tay Trong Khi Thiền (Ảnh zen-buddhism.net)

Có hai lý do cho tư thế tay này. Thứ nhất, hình dạng của bàn tay hài hoà điều kiện của tâm trí chúng ta. Ý nghĩa của mudra là “vượt khỏi tính hai mặt”. Thứ hai, nếu tâm trí của bạn ở đâu đó khác khi bạn ngồi thiền, hình dạng của hình bầu dục này trở nên méo mó. Đây có thể là một dấu hiệu cho chính bạn rằng có điều gì đó không ổn và cho giáo viên của bạn để họ có thể sửa bạn.

Hơi Thở Trong Khi Thiền

Thở trong việc thiền là một phần quan trọng, và nó là một phần cơ bản của luyện tập thiền Định. Hít thở đúng chỉ có thể đạt được qua tư thế đúng. Trong thời gian thiền định, hãy thở nhẹ nhàng qua mũi và giữ miệng đóng lại.

Hãy cố gắng thiết lập một nhịp điệu tự nhiên bình tĩnh, dài và sâu. Bạn nên tập trung hít thở phải được thực hiện tự nhiên. Thở trong thiền và võ thuật là tương tự, và chúng có thể được so sánh với tiếng kêu của một con bò hoặc tiếng gầm của một con hổ.

Trạng Thái Tâm Trí Trong Khi Thiền

Giống như hơi thở, tâm trí là điều thiết yếu trong thực hành thiền. Trạng thái tâm trí xuất hiện tự nhiên từ tập trung sâu vào tư thế và hít thở. Trong khi thiền, bình thường sẽ có hình ảnh, tư tưởng và cảm xúc xuất hiện trên bề mặt tâm trí. Đừng theo đuổi chúng hoặc chiến đấu chống lại chúng. Càng cố gắng loại bỏ chúng, bạn càng chú ý nhiều đến chúng và chúng càng trở nên mạnh hơn. Cố gắng không quan tâm đến chúng. Chỉ để chúng tự nhiên, như những đám mây trên bầu trời.

Tư Thế Chuẩn Khi Ngồi Thiền Định

Thiền sư Taisen Deshimaru nói: “Chỉ cần ngồi, không tìm kiếm bất kỳ mục tiêu hay lợi ích cá nhân nào, nếu tư thế, hơi thở và tâm trạng của bạn hòa hợp, bạn sẽ hiểu thật sự thiền là gì. Bạn sẽ hiểu được bản chất của Đức Phật. “

Theo zen-buddhism.net

Theo hoasenphat.com

Bát Chánh Đạo Là Gì?

Bát Chánh Đạo Là Gì?

Chánh Ngữ là bước tiếp theo của con đường giác ngộ, lời nói đúng đắn. Chúng ta có xu hướng đánh giá thấp sức mạnh của lời nói, và thường hối tiếc về những lời nói vội vàng

Bát Chánh Đạo Là Gì?

Bát Chánh Đạo Là Gì?

Bát Chánh Đạo là con đường để thoát khỏi khổ đau trong cõi trần, dù được gọi là con đường nhưng nó không phải là một quá trình luyện tập tuần tự mà là tám khía cạnh khác nhau trong cuộc sống. Bát Chánh Đạo là môi trường được tạo ra để tiến gần hơn đến con đường giác ngộ. Một giáo lý Phật giáo quan trọng mà bất kỳ ai cũng phải hiểu rõ để có cái nhìn đúng đắn hơn trong việc thực hành tâm linh và hoàn thiện bản thân.

Bát Chánh Đạo Là Gì?

Tám nhánh của con đường giải thoát khổ đau được xếp thành ba yếu tố thiết yếu của thực hành Phật giáo: hành vi đạo đức, kỷ luật tinh thần và trí tuệ. Đức Phật dạy Bát Chánh Đạo trong hầu hết các bài giảng của Người, và các hướng đi của Người cũng rõ ràng và thiết thực cho những người theo học.

Bát Chánh Đạo là trung tâm của con đường Trung Đạo, chuyển từ thái cực, và khuyến khích chúng ta tìm kiếm những phương pháp đơn giản. Chúng ta có thể đi vào giải thoát bằng ngõ Bảy Giác Chi, Bốn Niệm Xứ… nhưng tất cả những ngõ đường ấy đều được bao hàm trong Bát Chánh Đạo. Nếu tâm của chúng ta thực hành các pháp môn ngoại đạo, ở ngoài sự vận dụng tám chi của Bát Chánh Đạo, thì nhất định chúng ta không thể chứng đắc các quả vị của Sa-môn, đi vào giải thoát toàn vẹn, như lời dạy của Thế Tôn ở Sư Tử Hống Tiểu Kinh (Trung Bộ Kinh I).

Trong Phật giáo, Bát Chánh Đạo là phương châm, được xem xét, được suy ngẫm, và phải được thực hiện khi và chỉ khi mỗi bước được chấp nhận hoàn toàn như là một phần của cuộc sống mà bạn tìm kiếm. Phật giáo không bao giờ đòi hỏi đức tin mù quáng, Phật giáo chỉ tìm cách thúc đẩy học hỏi và quá trình tự khám phá bản thân.

Ý Nghĩa Của Bát Chánh Đạo

Tám nhánh của Bát Chánh Đạo bao gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa của con đường giác ngộ này nhé.

Bát Chánh Đạo

Chánh Kiến

Bước đầu tiên trên con đường Bát Chánh Đạo là hiểu đúng. Đây là một bước tiến quan trọng trên con đường vì nó liên quan đến nhận thức của chúng ta đối với thế giới và tất cả mọi thứ, không phải là chúng ta tin rằng nó được hay muốn nó được. Cũng như bạn có thể đọc các hướng dẫn trên bản đồ, nghiên cứu để chuẩn bị cho cuộc hành trình…đọc và kiểm tra các thông tin rất quan trọng, nhưng chỉ dừng lại ở khâu chuẩn bị. Ở mức độ sâu hơn, kinh nghiệm cá nhân trực tiếp mới dẫn chúng ta đến sự hiểu biết đúng.

Hiểu biết thực tế là rất ít giá trị, nếu chúng ta không đặt nó vào trải nghiệm cá nhân trong cuộc sống của chúng ta.

Chánh Tư Duy

Bước thứ hai trên Bát Chánh Đạo là Chánh Tư Duy có nghĩa là ý định đúng đắn. Đây là bước mà chúng ta bắt đầu cam kết với con đường. Sự hiểu biết đúng cho chúng ta thấy cuộc sống thực sự là gì và tất cả những vấn đề của cuộc sống.

Ý định phải bắt nguồn từ trái tim và bao gồm công nhận sự bình đẳng với mọi vấn đề của cuộc sống và từ bi đối với tất cả mọi thứ, bắt đầu từ chính bản thân bạn.

Ý định đúng nghĩa là sự kiên trì vào niềm đam mê cho cuộc hành trình. Việc leo lên một ngọn núi cao có nghĩa là bạn phải hiểu được những khó khăn, những cạm bẫy, những thành viên khác trong nhóm, và các thiết bị bạn cần. Điều này cũng tương tự như Chánh Kiến. Nhưng bạn sẽ chỉ leo núi nếu bạn thực sự muốn và có một niềm đam mê để leo lên núi. Đây là ý định đúng.

Tóm lại, hiểu đúng sẽ loại bỏ vô minh. Với ý định đúng và sự hiểu biết, chúng ta sẽ loại bỏ dục vọng, những thứ gây ra đau khổ được xác định trong Tứ Diệu Ðế.

Chánh Ngữ

Chánh Ngữ là bước tiếp theo của con đường giác ngộ, lời nói đúng đắn. Chúng ta có xu hướng đánh giá thấp sức mạnh của lời nói, và thường hối tiếc về những lời nói vội vàng. Mỗi người chúng ta đều trải qua nỗi thất vọng liên quan đến những lời chỉ trích khắc nghiệt, cho dù đó có phải là lý lẽ hay không, và chúng ta cảm thấy tốt khi những lời tử tế khuyến khích chúng ta.

Nói đúng phải ghi nhận sự thật, đồng thời cũng nhận thức được tác động của những tin đồn nhảm và lặp lại tin đồn. Giao tiếp trong tư duy giúp chúng ta đoàn kết, và có thể chữa lành sự bất đồng. Bằng cách giải quyết không bao giờ nói lời cay nghiệt, trong lời nói phải chứa từ bi.

Chánh Nghiệp

Hành động đúng đắn nhận ra nhu cầu phải tiếp cận lối sống đạo đức trong cuộc sống, xem xét người khác và thế giới chúng ta đang sống. Hành động đúng là tránh vi phạm ngũ giới được Đức Phật đưa ra, không được giết, trộm cắp, lừa dối, tránh hành vi sai trái tình dục, không dùng ma túy hoặc các chất gây nghiện khác.

Bước này trên con đường giác ngộ cũng bao gồm một cách tiếp cận tích cực với môi trường, hành động đúng được thực hiện bất cứ khi nào có thể để bảo vệ thế giới cho các thế hệ tương lai.

Chánh Mạng

Tiếp theo trên Bát Chánh Đạo đó là Chánh Mạng. Nếu công việc của bạn thiếu sự tôn trọng đối với cuộc sống, thì đó sẽ là rào cản cho sự tiến bộ trên con đường tâm linh. Phật giáo khuyến khích nguyên tắc bình đẳng của tất cả chúng sinh và tôn trọng mọi sự sống.

Một số loại công việc mà Đức Phật khuyến khích không nên làm vì nó ảnh hưởng đến quyền được sống của tất cả chúng sinh, như buôn bán các chất gây nghiện, những người buôn bán vũ khí và những thứ có hại cho đời sống của động vật hoặc con người. Vì vậy, một Phật tử đúng nghĩa sẽ không được khuyến khích có một cửa hàng rượu, sở hữu một cửa hàng súng, hoặc là một người bán thịt. Đức Phật đã nói “tương lai được tạo ra do những thứ chúng ta làm hôm nay”.

Chánh Tinh Tấn

Nỗ lực đúng đắn có nghĩa là ý chí tràn đầy năng lượng để ngăn ngừa những trạng thái xấu và thoát khỏi những trạng thái tà ác đã nảy sinh trong con người, phát triển và hoàn thiện những trạng thái thiện và lành mạnh của tâm trí. Nỗ lực đúng đắn nghĩa là trau dồi một sự nhiệt tình, thái độ tích cực trong một cách cân bằng. Giống như các dây của một nhạc cụ, những nỗ lực không nên quá căng thẳng hoặc quá thiếu kiên nhẫn, cũng như không quá chùng hoặc quá thoải mái. Chánh tinh tấn là chính thái độ quyết tâm ổn định và vui vẻ.

Chánh Niệm

Chánh niệm liên quan đến sự thay đổi trong suy nghĩ.

Tôi đề nghị bạn nghỉ ngơi một chút, đứng lên và đi bộ quanh phòng hoặc trong vườn, rồi quay lại đây đọc tiếp.

Chánh niệm nghĩa là ý thức được khoảnh khắc, và tập trung trong khoảnh khắc đó. Khi chúng ta đi du lịch một nơi nào đó, chúng ta nghe tiếng ồn, nhìn thấy tòa nhà, cây cối, quảng cáo, cảm thấy sự di chuyển, nghĩ đến những người chúng ta bỏ lại đằng sau, nghĩ đến điểm đến của chúng ta. Vì vậy, nó là các khoảnh khắc cuộc sống của chúng ta.

Chánh Niệm yêu cầu chúng ta phải nhận thức được hành động vào lúc đó, rõ ràng và không bị xáo trộn vào lúc đó. Chánh Niệm có liên quan chặt chẽ với thiền định và là nền tảng của thiền định.

Chánh Niệm không phải là một nỗ lực loại trừ thế giới, trên thực tế là ngược lại. Chánh Niệm yêu cầu chúng ta phải nhận thức được khoảnh khắc và hành động của chúng ta tại thời điểm đó. Bằng cách nhận thức được, chúng ta có thể thấy các mô hình và thói quen cũ kiểm soát chúng ta như thế nào. Trong nhận thức này, chúng ta có thể thấy nỗi lo sợ tương lai có thể hạn chế hành động hiện tại của chúng ta như thế nào.

Bây giờ, khi đọc tới đây, bạn thử đi bộ như trước nhưng với tâm trí tập trung, chỉ tập trung vào hành động đi bộ. Quan sát suy nghĩ của bạn trước khi quay lại đây.

Đôi khi bạn có thể bị hấp thụ vào những gì bạn đang làm. Âm nhạc, nghệ thuật, thể thao có thể kích hoạt những khoảnh khắc này. Bạn đã bao giờ làm bất cứ điều gì mà tâm trí của bạn chỉ chú tâm vào hoạt động đó? Vào thời điểm đó, bạn đang chú tâm. Đức Phật đã cho thấy làm thế nào để tích hợp nhận thức đó vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Chánh Định

Một khi tâm trí lơ lửng, nó có thể được tập trung để đạt được bất cứ điều gì ta muốn. Tập trung vào một đối tượng, chẳng hạn như hoa, hay một ngọn nến sáng, hoặc một khái niệm như lòng từ bi. Đây là phần tiếp theo của quá trình thiền định.

Lợi ích của chánh niệm và chánh định có ý nghĩa quan trọng khi ta dạy cho tâm trí thấy được mọi sự, chứ không phải như chúng ta tạo điều kiện để nhìn thấy chúng, nhưng thực sự là như vậy. Bằng cách hiện tại và có thể tập trung hiệu quả, một cảm giác vui vẻ trong thời điểm này đã được cảm nhận. Giải thoát khỏi sự kiểm soát của những cơn đau trong quá khứ và những trò chơi tâm trí trong tương lai đưa chúng ta đến gần với sự tự do thoát khỏi đau khổ.

Trên thực tế, toàn bộ giáo huấn của Đức Phật, mà Người đã cống hiến trong suốt 45 năm, đã làm theo cách này hay cách khác với con đường này. Người đã giải thích nó theo những cách khác nhau và bằng những từ khác nhau cho những người khác nhau, theo giai đoạn phát triển của họ. Nhưng bản chất của ngàn lời thuyết giảng ở khắp nơi trong kinh điển Phật giáo đều được tìm thấy trong Bát Chánh Đạo.

Hình ảnh thoughtco.com

Theo hoasenphat.com